Liên Tông Bảo Giám


THIÊN THỨ NĂM
CHÁNH TÍN NIỆM PHẬT

Tịnh độ duy tâm cùng khắp mười phương, Di-đà tự tánh viên dung một trí. Ứng đối mầu nhiệm nơi cảnh âm thanh sắc tướng, sáng ngời trong khoảng mắt và tâm. Ngay đây bỏ vọng về chân, liền đó trái trần hợp giác.

Thuở xưa, Tỷ-kheo Pháp Tạng phát thệ nguyện lớn, mở ra con đường nhiệm mầu Cực Lạc. Thế nên, đức Thế Tôn chỉ rõ Tây Phương, khai thị cõi nước nhiệm mầu cho bà Vi-đề-hy. Đó là pháp môn mà chư Phật hiện tướng lưỡi rộng dài trùm khắp đồng khen ngợi. Khi các kinh diệt hết chỉ còn kinh này, bởi do nơi tâm hỷ xả lợi sinh tăng trưởng, lòng từ bi ứng hóa lớn lao, nên về giáo lý thì phân ra chín phẩm, đây là riêng biệt mở ra môn phương tiện; về mặt quán thì nói rõ nhất tâm, thật là lối tắt trở về nguồn. Phàm Thánh dung hội, ví như lữ khách lang thang đã lâu được trở về quê hương; đạo cảm ứng qua lại, tợ trẻ thơ về bên từ mẫu. Không rõ đạo lý này thì chạm vào đâu cũng đều mê mờ, tin tưởng nghĩa lý trọn vẹn lời này, thì việc gì cũng thấu đạt.

Huống chi, đại nguyện từ quang thâu nhiếp, Phật lực khó nghĩ khó bàn; thuận nước xuôi thuyền chẳng nhọc nhằn tự lực, đẩy cửa rớt then cài lẽ nào lại do người khác? Có nguyện tất được tiếp dẫn, không căn cơ nào mà chẳng lợi ích; thuyền chở đá nặng mà được qua sông, ngọn lửa nơi địa ngục nhanh chóng tắt ngúm. Bồ-tát, Thanh văn vãng sinh cõi kia vô lượng vô số, các bậc Hiền trước Thánh sau được đạo có thể nghiệm xét. Chim Anh vũ, Ca-lăng-tần-già còn diễn xướng pháp âm; những loài bò, bay, máy, cựa đều được nhờ ân đức từ bi giáo hóa.

Cảnh Thánh chẳng phải hư vô, lời Phật không hề giả dối. Tại sao lại trôi nổi nơi dòng sông ân ái, đắm chìm mà chẳng biết toan? Trong nhà lửa rực cháy đốt thiêu vẫn không kinh sợ? Đan dệt mạng lưới ngu si dày đặc, lưỡi gươm trí tuệ cùn lục đâu thể chém đứt; trồng gốc rễ nghi ngờ đã sâu, chỉ có niềm tin hời hợt làm sao mà nhổ sạch, bèn cam tâm bằng lòng trong ương họa tai nàn.
Lại phỉ báng cõi nước thanh tịnh, tham luyến cảnh giới não phiền, như bướm lao vào đèn, như tằm bị nung nấu, tự chịu tai ương cá chậu chim lồng mà cho là khoái lạc, đều bởi do thiện lực kém nghiệp lực mạnh, tín căn ít tội căn nhiều. Thế nên, ba cõi mịt mù, bốn loài  rối rắm, đều do tham sống mà mãi miết lăng xăng, nào ai biết trở về? Chúng sinh vì chạy theo nghiệp nên bối rối, chẳng mong cầu giải thoát. Sự sinh tử trong quá khứ như kiếp đá  khó tận cùng, vòng luân hồi ở vị lai như thành cải  bao giờ mới hết? Nếu chẳng phải đời trước không có duyên lành, sao được gặp nhân duyên Tịnh độ?

Được cơ hội đánh trống mở cửa tù, hãy mau chóng chạy ra; gặp thuyền cứu nạn đắm chìm, sao còn nghi ngờ do dự? Nên kính thuận kinh văn, khéo theo Phật học, người không nghe không hiểu thật là đau đớn xót xa! Huống chi trong đời ngũ trược nhơ ác, lửa đốt khắp nơi, chỉ một mình đức Phật có năng lực cứu vãn!

Đã nghe diệu pháp, nên trồng nhân duyên thanh tịnh; một niệm tín thành ắt đã gây nhân vạn đức. Suy tư làm sao để bằng hàng tiên triết, trông mong tỏ ngộ đạo lý chân thường. Khuyên mọi người đều vâng theo lời dạy mà thực hành, hết lòng đảnh lễ tin nhận!

ĐOẠN TRỪ NGHI NGỜ, PHÁT SINH LÒNG TIN

Tong kinh nói: “Được làm người là khó, sáu căn toàn vẹn là khó, sinh nơi trung tâm đất nước là khó, gặp Phật đạo là khó, phát khởi lòng tin là khó”. Tôi từng luận bàn về sự khó khăn của việc phát khởi lòng tin: có nghi ngờ mà không đoạn trừ, sao phát sinh lòng tin được? Cho nên, kinh Kim Cang nói: “Lòng tin chân chánh rất là hiếm có”. Kinh Pháp Hoa nói: “Do lòng tin mà được vào”. Long Thơ Tịnh Độ nói: “Đức Phật là bậc Đại Y Vương, có thể cứu tất cả bệnh nhưng không thể cứu người mạng tận. Đức Phật có thể độ tất cả mọi người nhưng không thể độ người không có lòng tin”. Bởi lòng tin là sự chân thành trong một niệm. Nếu tâm niệm người muốn bước đi thì chân theo đó mà đi, tâm niệm muốn ở lại thì thân theo đó mà ở lại. Đủ thấy, thân này theo tâm niệm hành động, nhưng có lúc tâm niệm muốn đi thân lại bị trói buộc. Khi sắc thân tan hoại thì chỉ có một niệm mà thôi, một miệm này muốn đến đâu thì đều đến được. Vì vậy, một niệm tín tâm niệm Phật cầu sinh Tịnh độ thì nhất định vãng sinh Tịnh độ. Huống chi đức Thế Tôn, chư đại Bồ-tát còn có sức mạnh thệ nguyện tiếp dẫn vãng sinh.

Có người hỏi:

– Nay có người cả đời trì giới niệm Phật, lúc lâm chung không được sinh về Tịnh độ là tại sao?

Đáp:

– Đó là do lòng tin không sâu, hạnh nguyện kém khuyết, lại chưa hề phát tâm Bồ-đề rộng lớn và chưa từng dứt trừ tà hạnh của mười việc ác. Tuy nói tu hành, nhưng lời nói và việc làm chưa từng phù hợp; tuy nói niệm Phật, mà tịnh niệm chưa từng tiếp nối. Đã không có công phu chân thật, làm sao được quả báo Tịnh độ! Trong kinh Duy-ma nói: “Tùy theo tâm thanh tịnh thì cõi Phật thanh tịnh”. Kinh Pháp Bảo Đàn nói: “Trong tâm nếu không có niệm bất thiện, Tây Phương cách đây không xa. Nếu ôm lòng bất thiện niệm Phật cầu vãng sinh thì khó đến được. Không đoạn trừ tâm thập ác, Phật nào đến đón rước”.

Lục Tổ vì thấy người đời không lo thanh tịnh tâm mình, miệng chỉ niệm danh hiệu Phật, tìm Phật ở ngoài tâm, vọng tưởng chấp trước, chẳng tự thanh tịnh tâm mình, lại tạo những điều ác. Đó gọi là tự làm mất Phật của chính mình, lại còn đi tìm cầu Phật nào khác. Vì vậy nên nói: “Mê tức là chúng sinh, ngộ tức là Phật”. Chương Niệm Phật Viên Thông trong kinh Lăng-nghiêm, Bồ-tát Đại Thế Chí nói: “Nhớ Phật niệm Phật, hiện tại, tương lai nhất định thấy Phật”. Vì nhớ niệm tức là tâm niệm, lòng tin thanh tịnh, Tín, Hạnh, Nguyện đầy đủ.

Kinh này còn nói: “Một căn đã về nguồn, sáu căn thành giải thoát; thập ác  hóa thành thập thiện , lục thức  hóa thành lục thần thông ”. Cho nên, trong tâm chánh tín nghĩ nhớ niệm Phật, gọi là tịnh niệm tiếp nối thì Di-đà tự tánh hiện tiền. Bên đây cảm, bên kia ứng, lúc sắp mạng chung, sao lại không được thấy Phật mà vãng sinh Tịnh độ?

Phàm người tu Tịnh nghiệp, nên tin lời Phật, làm theo hạnh Phật. Tâm niệm đã không trái ngược, nhân quả chắc chắn rõ ràng. Nếu nghe mà không tin, tin mà không thực hành, cũng như bánh vẽ không no được bụng đói. Tâm đã không tin thì phát sinh nghi ngờ phỉ báng, đã phát sinh nghi ngờ phỉ báng thì tự mờ mịt tâm mình, tự mờ mịt tâm mình thì càng thêm xa rời Tịnh độ. Do đó, cư sĩ Chu ở Hương Sơn viết lời tựa trong quyển Liên Tông Sám của ngài Từ Chiếu, nói rằng: “Bậc Đạo sư là nói vị giáo hóa có phương pháp để đạt đến giác ngộ, dạy người có đạo lý. Lấy lòng tin sâu làm lối vào, phá trừ sự chấp trước mê mờ của những kẻ Xiển-đề; chuyên niệm Phật làm môn thực hành khiến tâm không loạn động, thêm vào đó là lấy tâm nguyện Bồ-đề làm căn bản độ thoát chúng sinh. Đủ ba điều ấy thì có thể lên Thượng phẩm Thượng sinh ở cõi Cực Lạc, dễ dàng đạt đến biển quả Tỳ-lô”. Lại nói: “Việc này người người vốn đầy đủ, ai nấy đều thành tựu trọn vẹn. Nhưng vì không có ba chữ Tín, Nguyện, Hạnh, do đó đọa lạc trong luân hồi”.

Than ôi! Phàm kẻ làm người chẳng luận phước đức, chẳng luận tôn quý, chẳng luận thông minh, chẳng luận tướng mạo, chỉ đầy đủ Tín, Nguyện, Hạnh thì chính là tư lương để vãng sinh Tịnh độ. Tứ Liệu Giản nói: “Từ đây qua phương Tây, cách mười muôn ức cõi Phật có thế giới tên là Cực Lạc, đó là đứng về khía cạnh xa mà nói. Nếu một niệm tín tâm niệm Phật thì liền đến Tây Phương, đó là đứng về khía cạnh gần mà nói. Cho nên bảo rằng, cũng gần mà cũng xa, chỉ ở nơi lòng tin và tâm nguyện của người mà thôi. Tin thì không cách mảy tơ, nghi thì lưu chuyển trong sinh tử”. Lại nói:
Từ đây qua Tây Phương
Lộ trình xa mười vạn
Tư lương nếu đầy đủ
Lo gì không đến được.

Thế nên nói: “Lòng tin đứng đầu muôn điều lành, lòng tin là chủ của trăm hạnh”. Kinh Hoa Nghiêm lấy Thập tín  làm điểm khởi đầu của sự thành Phật, kinh Pháp Hoa lấy chánh tín làm cửa để vào đạo, Ngũ căn lấy Tín căn làm đầu, Ngũ lực lấy Tín lực làm trước. Vì thế, chư Phật trong ba đời, chư đại Bồ-tát, lịch đại Tổ sư tu các công hạnh, đầy đủ đại nguyện lực, vào cảnh giới Phật, thành tựu Bồ-đề, chưa có ai không từ nơi chữ Tín này mà bước vào.

Pháp sư Đàm Loan gặp được kinh Quán Vô Lượng Thọ của ngài Lưu Chi trao cho, liền đốt kinh Tiên tu Tịnh nghiệp, lẽ nào không phải là do chữ Tín này? Bạch Cư Dị đi cũng niệm Di-đà, ngồi cũng niệm Di-đà, cũng chẳng ra ngoài chữ Tín này! Tô Đông Pha mang bức tượng Di-đà, lúc đi hay ngồi cũng đều mang theo bên mình nói là Tây Phương công cứ, thế thì cũng không ra ngoài chữ Tín này! Trương Thiện Hòa cả đời mổ trâu, khi lâm chung tự thấy tướng địa ngục hiện, nhưng gặp được vị tăng dạy niệm Phật A-di-đà. Ông niệm chưa được mười câu thì thấy Phật tiếp dẫn vãng sinh Tịnh độ, liền thoát khỏi địa ngục. Đó chẳng phải là do lòng tin mà được như thế hay sao?

Kinh Hoa Nghiêm nói: “Lòng tin là gốc của đạo, là mẹ sinh ra công đức. Lòng tin hay nuôi lớn các căn lành. Lòng tin có thể vượt ra khỏi các đường ma. Lòng tin có thể được vào chánh định. Lòng tin có thể thoát biển sinh tử. Lòng tin có thể thành tựu đạo giác ngộ của Phật”.

Than ôi! Thời nay, người trì trai tin giữ giới mà không tin niệm Phật, tin thờ Phật mà không tin vãng sinh Tịnh độ. Như thế là tự làm mất lợi ích lớn, cần nên xét kỹ!

Trên đường Trời, Người lấy phước làm đầu; trong biển sinh tử, niệm Phật bậc nhất. Nay có người muốn được sự vui vẻ nơi cõi Trời, Người mà không chịu tu phước; muốn ra khỏi sinh tử nhưng lại không niệm Phật; ví như chim không cánh mà muốn bay, cây không gốc mà muốn sum suê tươi tốt, làm sao đạt được?

Nếu là bạn pháp với tôi, cần phải tin sâu lời chư Phật nói chân thật không giả dối. Phương pháp hay giải thoát đau khổ không gì bằng niệm Phật, chuyên tu Tịnh nghiệp mong ra khỏi luân hồi. Thời gian chẳng đợi người, thận trọng chớ nghi ngờ hối tiếc!

Như thế, thật đáng gọi là:
Thân này chẳng chịu đời này độ
Lại đợi đời nào độ thân này!

Chương 2
KHUYÊN PHÁT LÒNG TIN

Phật A-di-đà là bậc tôn quý trong các đức Phật, cha lành của bốn loài chúng sinh. Người trở về tin tưởng thì tiêu diệt tội lỗi nhiều như cát sông Hằng, xưng niệm thì được phước vô lượng.
Muốn niệm Phật phải khởi lòng tin, nếu không có lòng tin thì chẳng được gì. Thế nên, Pháp sư Tăng Triệu nói: “Việc ấy đúng như vậy” là tướng trạng của niềm tin, bảo rằng “việc ấy không như vậy” là tướng trạng của sự không tin tưởng”.

Lòng tin là bước quan trọng ban đầu để vào đạo, trí tuệ là chỗ huyền diệu sau cùng. Các kinh trước nói “như vầy” là chỉ cho lòng tin, sau cùng nói “vâng làm” là chỉ cho trí tuệ. Do đó, kinh A-di-đà nói: “Nếu có người tin ưa, nên phát nguyện sinh về cõi Cực Lạc”. Đây là chỗ khuyên phát lòng tin của đức Phật Thích-ca Mâu-ni.
Kinh này còn nói: “Các ông nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức này”. Đây là chỗ khuyên phát lòng tin của chư Phật khắp sáu phương.
Luận còn nói: “Nếu người trồng căn lành, nghi thì hoa không nở. Người lòng tin thanh tịnh, hoa nở được thấy Phật”. Đây là chỗ khuyên phát lòng tin trong Luận Vãng Sinh.
Hơn nữa, tin thì lời nói thuận lý; thuận thì thành tựu đạo thầy trò. Kinh, không luận là nghĩa lý phong phú hay ước lược, nếu chẳng có lòng tin thì không thể lưu truyền. Đó là chỗ khuyên phát lòng tin của ngài Tăng Triệu.

Lại nói: “Pháp môn niệm Phật này, chẳng luận là tăng tục, nam nữ, sang hèn, nghèo giàu, chỉ cần có đủ niềm tin”. Đây là chỗ khuyên phát lòng tin của Hòa thượng Đại Hạnh.
Hỏi:

– Đã nói rằng tin, vậy chưa biết tin những pháp gì?

Đáp:

– Tin nghĩa là tin theo, như trong kinh nói:

* Tin niệm Phật nhất định vãng sinh Tịnh độ.
* Tin niệm Phật nhất định diệt trừ mọi tội lỗi
* Tin niệm Phật nhất định được Phật hộ trì.
* Tin niệm Phật nhất định được Phật chứng minh.
* Tin niệm Phật, đến lúc mạng chung, nhất định được Phật đến tiếp dẫn.
* Tin niệm Phật, bất luận là chúng sinh nào, hễ có cùng lòng tin đều được vãng sinh.
* Tin niệm Phật vãng sinh Tịnh độ nhất định được vào bậc Bất thối.
* Tin vãng sinh Tịnh độ nhất định không còn rơi vào ba đường Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh.

Cho nên, khuyên tin tưởng niệm Phật. Tiếp nhận pháp này, trì niệm danh hiệu này, chắc chắn vãng sinh Tịnh độ. Vì thế, Hòa thượng Đại Hạnh dạy người niệm Phật, thấy “tâm chỉ tin Phật thì Phật liền biết, vì Ngài có thần thông biết được tâm người. Miệng chỉ xưng danh hiệu Phật thì Phật liền nghe, vì Ngài có thần thông nghe suốt tất cả. Thân chỉ lễ Phật thì Phật liền thấy, vì Ngài có thần thông thấy khắp mười phương”. Do vậy, Hòa thượng Đại Hạnh đem pháp niệm Phật này khuyên mọi người phát sinh lòng tin.
Lại ví dụ, lòng tin cũng như việc trồng cây trái, rễ sâu nên gió thổi không lay động. Về sau, cây sẽ đơm bông kết trái, giúp người qua cơn đói khát. Người niệm Phật cũng như thế, do tin sâu mà được đến Tây Phương. Nếu không có lòng tin thì chẳng được gì, trong kinh nói: “Bồ-tát Thập trụ  vừa khởi lòng tin niệm Phật, về sau dù gặp ác duyên mất thân mạng, thà chết chớ không thối thất”.
Kinh Duy-ma nói: “Tin sâu vững chắc giống như kim cương, pháp bảo soi khắp cả giống như mưa cam lồ”.

Niệm Phật Tam-muội từ lòng tin sâu sắc mà phát sinh.

Anh xem Tịnh độ hằng sa Phật
Đều là người chánh tín hiện nay.

Chương 3
KỆ CHÁNH TÍN VÃNG SINH
CỦA SÁM CHỦ TỪ VÂN THỨC

Cúi lễ Tây Phương cõi An Lạc
Di-đà giáo chủ đại từ tôn
Con nương tất cả các kinh điển
Thành tựu lòng tin quyết vãng sinh.
Người trụ Đại thừa tâm thanh tịnh
Mười câu niệm Phật Vô Lượng Thọ
Lâm chung thấy Phật quyết vãng sinh
Kinh Đại Bảo Tích nói như thế.
Tội ngũ nghịch lửa địa ngục hiện
Gặp thiện tri thức phát tâm mạnh
Mười câu niệm Phật liền vãng sinh
Kinh Thập Lục Quán nói như thế.
Nếu có người hoan hỷ ưa thích
Cho đến mười niệm liền vãng sinh
Nếu không như thế chẳng thành Phật
Bốn mươi tám nguyện nói như thế.
Nếu có người nghe danh chí tâm
Một niệm hướng về liền vãng sinh
Chỉ trừ ngũ nghịch chê chánh pháp
Kinh Vô Lượng Thọ nói như thế.
Lâm chung không thể quán và niệm
Chỉ phát khởi ý biết có Phật
Người này hơi dứt liền vãng sinh
Kinh Đại Pháp Cổ nói như thế.
Một ngày, một đêm, treo tràng phan
Chuyên niệm vãng sinh tâm không dứt
Trong mộng thấy Phật liền vãng sinh
Kinh Vô Lượng Thọ nói như thế.
Một ngày sớm tối xưng danh Phật
Chuyên cần tinh tấn không dừng nghỉ
Lần lượt khuyên nhau cùng vãng sinh
Trong kinh Đại Bi nói như thế.
Một ngày, hai ngày đến bảy ngày
Chấp trì danh hiệu tâm không loạn
Phật hiện trước mặt liền vãng sinh
Kinh A-di-đà nói như thế.
Nếu người nghe Phật A-di-đà
Một ngày, hai ngày, hoặc hơn nữa
Buộc niệm hiện tiền liền vãng sinh
Trong kinh Ban Chu nói như thế.
Một ngày, một đêm trong sáu thời
Năm vóc lễ Phật, niệm không dứt
Hiện thấy Phật ấy, liền vãng sinh
Kinh Cổ Âm Vương nói như thế.
Mười ngày, mười đêm trì trai giới
Treo phan, bảo cái, đốt hương đèn
Buộc niệm không dứt được vãng sinh
Kinh Vô Lượng Thọ nói như thế.
Nếu người chuyên niệm Phật một phương
Hoặc đi, hoặc ngồi bốn chín ngày
Tự thân thấy Phật liền vãng sinh
Trong kinh Đại Tập nói như thế.
Nếu người tự thệ thường kinh hành
Trong chín mươi ngày không ngồi nằm
Nơi chánh định thấy Phật Di-đà
Trong kinh Phật Lập nói như thế.
Nếu người ngồi thẳng hướng về Tây
Suốt chín mươi ngày thường niệm Phật
Được thành Tam-muội sinh trước Phật
Kinh Văn-thù Bát-nhã noi thế.
Tôi dẫn ít phần trong các kinh
Những lời như thế vô cùng tận
Nguyện người cùng nghe sinh chánh tín
Lời Phật chân thật chẳng hư dối
Phật đã nói rõ dễ vãng sinh
Mong đều tin chắc không nghi hoặc.

Chương 4
LỜI TỰA TỊNH ĐỘ THẬP NGHI LUẬN
CỦA ĐẠI SƯ TRÍ GIẢ Ở THIÊN THAI

Trí tuệ hàng Thanh văn không thể lường xét chỗ sâu xa của chư Phật, Bồ-tát hàng Thập địa chẳng thể cùng tận chỗ mầu nhiệm của quả vị tột cùng. Huống chi, hàng phàm phu không có mắt tuệ, rơi trong ba cõi, mê vọng sâu dày, cho Tịnh độ là sai lầm, niềm nghi ngờ khó chuyển đổi. Nghi ở nơi thân, biết rằng chưa diệt (kiến chấp) năm uẩn; nghi ở nơi tâm thì biết chưa trừ muôn điều mê lầm; nghi ở nơi hạnh, biết rằng chưa thực hành được Lục độ. Do hạnh còn trôi nổi đắm chìm chưa qua được bờ kia, nên mới mong những người đã qua cứu giúp. Ở nơi mình vẫn còn mê lầm, huống gì đối với người khác! Đây là điều lòng người khó tin, người tu kẻ tục đều nghi ngờ.

Đại sư Trí Giả đời Tùy, tâm thầm hợp với muôn vật, trí tuệ thấu suốt tất cả, nhân cơ hội phụ trợ giáo pháp, hiển bày nhiều điềm lạ. Do những điềm lạ ấy mà xét sự chứng đắc, chẳng biết chẳng hay Ngài là bậc Tam Hiền  chăng? Hàng Thập Thánh  chăng? Hay là bậc Ứng Chánh Đẳng Giác biến hóa thần diệu thật khó nghĩ bàn! Suy xét cũng chẳng biết được. Song, Đại sư đầy đủ chánh niệm thiền định tổng trì, hạnh nghiệp sáng ngời, không lãng quên cầu sinh Tịnh độ dù trong giây phút. Hiện nay, phát hiện trong những tác phẩm còn lại của Đại sư, có lẽ là Thập Nghi Luận. Nhưng sách này, xa thì y cứ trong các kinh, gần thì y cứ từ những bộ luận, chọn lựa ý để dẫn truyện. Không lìa kinh để làm cho được hoàn bị, chẳng trao chuốt ngôn từ để tăng thêm sự khéo léo. Xét từ đạt ý, có thể cùng tột nơi chín phẩm, như thế mới thấy chỗ dụng tâm của Đại sư. Thấy được tấm lòng của Ngài, vả chăng ở người có mối nghi ngờ về Tịnh độ. Gọi là trời cao không mây, ngàn sao lấp lánh, trật tự khác nhau, thứ lớp không đồng, sáng rỡ không gì che khuất.

Tôi được sách này, nhớ lại đức Thế Tôn nhọc nhằn khen ngợi Tịnh độ, chư Phật xác nhận làm thành tựu lòng tin, hoặc hiện tướng lưỡi che khắp ba ngàn thế giới, hoặc âm thanh như sóng biển để diễn nói lời thanh tịnh.

Tôi tuy hiểu biết nông cạn, chẳng thể phát huy rực rỡ pháp môn này, nhưng đâu nỡ không lời! Thế nên, lược nêu ra vài điều ở trước sách này, để bày tỏ hết những điều ôm ấp trong lòng. Tuy từ thô lý cạn, chẳng đủ hưng khởi sự giáo hóa của Đại sư, nhưng nơi ý nghĩa chư Phật xác nhận làm thành tựu lòng tin, thì có chỗ trở về.

Chương 5
LỜI TỰA TRỰC CHỈ TỊNH ĐỘ QUYẾT NGHI
CỦA DƯƠNG KIỆT

Thánh nhân do đại nguyện từ Tịnh độ đến, đến mà thật không có đến; phàm phu tin sâu sinh qua Tinh độ, đi mà thật không có đi. Kia chẳng đến đây, đây chẳng qua kia mà Thánh phàm hội ngộ, hai bên đều được giao tiếp, là tại sao? Vì ánh sáng của Phật Di-đà như mặt trăng tròn đầy chiếu khắp mười phương, nước lắng trong thì trăng hiện toàn thể. Trăng chẳng phải đến với nước, nước dấy động vẩn đục thì trăng không hiện rõ, chớ chẳng phải trăng bỏ nước mà đi. Nước có trong, đục, động, tĩnh, nhưng trăng thì không lấy bỏ, đến, đi. Thế nên, trong kinh Hoa Nghiêm, Trưởng giả Giải Thoát nói: “Biết tất cả chư Phật giống như bóng, tâm mình giống như nước. Các đức Như Lai kia không đến đây, ta cũng không qua kia. Nếu ta muốn thấy Phật A-di-đà ở thế giới An Lạc tùy ý liền thấy”.

Vì vậy nên biết, chúng sinh chuyên chú tâm niệm muốn thấy Phật A-di-đà thì liền được thấy, đó chính là lời chân thật xứng hợp với bản tánh, chẳng phải là giáo lý quyền biến.
Tịnh độ không có sự ham muốn nên chẳng phải là Dục giới. Cõi nước ấy ở trên mặt đất nên chẳng phải Sắc giới. Lúc hóa sinh có hình tướng nên chẳng phải là Vô sắc giới.
Tất cả chúng sinh chưa tỉnh ngộ chánh giác, ở trong giấc mộng lớn, thăng trầm nơi sáu nẻo chưa từng dừng nghỉ. Chư Thiên tuy vui sướng, nhưng lúc quả báo hết, tướng suy hao biểu hiện; A-tu-la sân hận chiến tranh hơn thua; Bàng sinh bay chạy, ăn nuốt, tàn sát lẫn nhau; Quỷ thần thì âm u đói khát bức bách; Địa ngục ở trong đêm dài tăm tối, thống khổ kêu gào. Được sinh làm người thì ta vốn là may mắn. Song, sinh già bệnh chết bao nhiêu nỗi khổ ràng buộc trói trăn, chỉ có Tịnh độ là không còn khổ não.

Thai sen gởi hình chất nên không có nỗi khổ của sự sinh. Nóng, lạnh chẳng đổi dời nên không có nỗi khổ già suy. Thân thể chẳng có phần đoạn nên không có nỗi khổ bệnh tật. Thọ mạng vô lượng nên không có nỗi khổ về sự chết. Không cha mẹ, vợ con nên không có nỗi khổ thương yêu ly biệt. Các bậc Thượng thiện nhân cùng hội tụ nên không có nỗi khổ oán ghét mà gặp gỡ. Áo đẹp, cơm thơm, thọ dùng trân bảo, nên không có nỗi khổ mong cầu chẳng được. Thường quán chiếu bản tánh rỗng lặng nên không có nỗi khổ về thân năm uẩn. Từ bi tế độ loài hữu tình, muốn sinh đến nơi nào thì sinh, không trụ nơi vắng lặng, vì vậy chẳng phải là Nhị thừa. Trí tuệ chiếu soi sinh tử, được Bất thối chuyển, nên chẳng phải là phàm phu.

Ba cõi mênh mông ví như nơi bốn bề gò nỗng, hầm hố, chứa đầy dơ bẩn, khe vực cách trở lấy gì làm chiếc cầu? Lại có kẻ cuồng ở trong đó lạc đường, ác thú ma quỷ não hại vây quanh, đao binh nước lửa; hoặc gặp lúc bi thương đột ngột, sương gió sấm sét, bị hiếp đáp chèn ép, chẳng biết tìm nơi nào để được che chở; hoặc ẩm thực, y phục chưa đầy đủ, cam chịu những nỗi khổ ấy mà chẳng mong cầu an lạc.

Phật Thích-ca là bậc Đại Đạo sư, chỉ rõ cõi nước thanh tịnh tức là thế giới An Lạc. Phật Vô Lượng Thọ là bậc thầy nơi Tịnh độ. Các chúng sinh nếu sinh về cõi ấy thì không có những phiền não. Người không nghe biết về điều này, thật đáng xót thương! Cũng có những người thiện, phát ba thứ tâm mà không cầu vãng sinh, thật là đáng tiếc!

* Thứ nhất: ta sẽ siêu Phật vượt Tổ, Tịnh độ đâu đáng để vãng sinh.
* Thứ hai: nơi nơi đều là Tịnh độ, chẳng cần sinh về Tây Phương.
* Thứ ba: Cực Lạc là cõi Thánh, bọn ta là kẻ phàm đâu thể sinh về đó được.

Nói về biển hạnh thì vô lượng, nhưng Bồ-tát Phổ Hiền lại nguyện thấy Phật Di-đà. Cõi Phật tuy rỗng không mà ngài Duy-ma thường tu Tịnh độ. Như Lai khắp mười phương có lời khen ngợi bằng tướng lưỡi rộng dài. Bồ-tát trong mười phương có tâm cùng vãng sinh Cực Lạc. Tự mình nên thử lường xét xem ai bằng với các bậc Thánh, mà bảo rằng Tịnh độ không đáng để sinh về. Tại sao lại tự lừa dối mình như thế?

Đến như Tổ sư Long Thọ trong kinh Lăng-già có lời thọ ký từ trước. Bồ-tát Thế Thân là bậc Giáo Tông, viết nhiều luận sớ, còn có bài kệ cầu vãng sinh. Trong Thông Tán của ngài Từ Ân, đầu tiên khen ngợi mười điều thù thắng. Đại sư Trí Giả phân tích nghĩa lý, biện biệt rõ mười mối nghi ngờ. Các Ngài đều là bậc thượng triết mà còn tinh tấn đối với sự vãng sinh. Tại sao lại nói chẳng cần sinh về Tây Phương, tự ngạo mạn đến thế?

Xe lửa trong chốn địa ngục có thể tắt; thuyền chở đá nặng vẫn không chìm. Hiện hoa báo không ai hơn Trương Chung Quỳ, chỉ mười niệm được vượt lên cõi thù thắng. Vào địa ngục không ai nhanh hơn sư Hùng Tuấn, mà được sống lại rồi tu hành chứng được nhân vi diệu. Lỗi lầm của người đời chưa hẳn đến thế, mà nói rằng không thể vãng sinh. Tại sao lại tự vứt bỏ mình?
Kinh Ban Chu Tam-muội nói: “Bồ-tát Bạt-đà Hòa hỏi đức Phật: chúng sinh đời vị lai làm sao được thấy chư Phật ở mười phương? Đức Phật dạy họ niệm Phật A-di-đà thì liền thấy chư Phật trong mười phương”.

Trong kinh Bảo Tích nói: “Chúng sinh ở phương khác nghe về danh hiệu của Như Lai Vô Lượng Thọ, cho đến phát một ý niệm tin tưởng thanh tịnh, hoan hỷ ưa thích, có bao nhiêu căn lành hồi hướng nguyện sinh về cõi kia, theo nguyện đều vãng sinh, được Bất thối chuyển”.

Đây chính là lời Phật nói. Không tin lời Phật thì lời ai đáng tin? Không sinh về Tịnh độ thì sinh về cõi nào? Như thế, là tự lừa dối, tự ngạo mạn, tự vứt bỏ tánh linh của chính mình, trôi vào trong vòng luân hồi sinh tử. Đó là lỗi của ai?

Bốn mươi tám nguyện đều vì cứu độ chúng sinh, mười sáu pháp quán đồng về chỗ buộc niệm. Một niệm tin tưởng ắt đã gieo giống trong ao báo; vun bồi các điều lành nhất định hóa sinh nơi kim địa.
Nếu như không có hối tiếc và nghi ngờ, tức thời sen nở được đạo giải thoát Tịnh độ duy tâm, Di-đà tự tánh. Trong ánh sáng rộng lớn quyết không có ma sự.

Tịnh Độ Quyết Nghi Tập là do Thị Lang Vương Mẫn Trọng soạn, giải thích nghi ngờ, làm lối tắt dẫn đến lòng tin vững chắc. Yếu chỉ được ghi chép trong đây rất tường tận. Đó là lời dẫn đường đến cõi nước An Dưỡng. Nếu lên đến bờ kia, cố nhiên có thể quên thuyền, người muốn đến thì cần phải hỏi bến bờ. Chớ nên xem thường lời này!

Share Button
Print Friendly

Những Bài Pháp Khác