Tịnh Độ Chỉ Quyết


LỜI NGỎ
Thuốc không luận quý hiếm hay thông thường, chữa lành bệnh là thuốc hay. Pháp chẳng luận cạn sâu, hóa giải được phiền não là diệu pháp. Do chúng sanh có nhiều bệnh nên Đức Phật mới lập ra nhiều pháp môn, nhưng tất cả giáo lý đều lấy giác ngộ làm đích đến.
Một câu A Di Đà thật rất giản đơn, dễ thực hành mà hiệu quả lại vô cùng nhanh chóng, nghĩa lý sâu rộng vô biên.
Nói về chiều sâu thì hàng thượng căn nương nơi đây mà thâm nhập Tự tánh Di Đà, tỏ ngộ Duy tâm Tịnh độ.
Nói về chiều rộng, hàng trung hạ chỉ cần tin, nguyện, thực hành thì hiện tại phiền não tiêu món, thân tâm an lạc, lâm chung lại được chánh niệm vãng sanh.
Như thế, chẳng phải là rất sâu xa rộng lớn hay sao ?
“Một pháp môn Tịnh độ lợi khắp ba căn, thâu nhiếp cả thánh lẫn phàm”. Từng chữ, từng lời, từng câu nói của người xưa đều là chân thật, đều phát xuất từ tấm lòng đại bi vô hạn !
Do cảm nhận được chân giá trị của pháp môn này nên chư Đại đức Thiện An, Đại đức Pháp Đăng, Đại đức Tâm Huệ và các Phật tử Diệu Thiện, Diệu Huệ … đã tận tâm tận lực hỗ trợ giúp đỡ để tôi hoàn thành quyển sách này.
Huynh đệ hậu học chúng tôi chỉ có tấm lòng. Thiết nghĩ, với sự hiểu biết còn nông cạn nên sẽ không sao tránh khỏi những điều sai lầm sơ thất.
Kính mong các bậc tôn đức và pháp hữu mười phương niệm tình chỉ giáo. Huynh đệ chúng tôi thành kính tri ân vô lượng !
Mùa An Cư Phật lịch 2547
Chùa Bửu Liên, 15/7/2003
Thích Minh Thành
Kính ghi

TỰA
Pháp môn phương tiện của Phật, Tổ rất nhiều, nhưng muốn tìm pháp thẳng tắt giản dị rộng lớn tinh vi thì không gì bằng một môn Tịnh độ. Người xưa bảo : “Trong biển sanh tử, niệm Phật bậc nhất”, thật không phải là lời nói giả dối.

Từng cứu xét trong Kinh A Di Đà chính Như Lai tuyên thuyết, sáu phương cùng chung khen ngợi. Các Kinh Luận Đại thừa cũng đều khuyến tấn đinh ninh.
Đến như các bậc tông sư : Thiên Thai, Nam Nhạc, Trường Lô, Vĩnh Minh, Từ Thọ, Trung Phong… đều cực lực tán dương.
Bởi vì, pháp môn này về mặt tự lợi thì một đời có thể thành tựu, về mặt lợi người thì ba căn cơ đều có thể thâu nhiếp; còn xét chỗ trở về thì lại phù hợp với ý chỉ của Thiền tông, bảo rằng Thiền là Thiền của Tịnh độ, Tịnh độ là Tịnh độ của Thiền. Thật là xác đáng.
Phật pháp dần suy, bậc chân tu hiếm thấy. Người tham Thiền được chút ít hiểu biết liền vội luận bàn hướng thượng cao siêu, xem thường tịnh hạnh. Thậm chí những lời phá trừ chấp trước của Tổ sư mà họ cho là pháp thật, khắp nơi đều vậy không chịu hướng về.
Người hiểu biết lấy làm lo lắng, bảo rằng : họ tự mất điều lợi ích mà còn gây nên lỗi lầm phỉ báng chánh pháp. Thật đáng sợ !
Đại sư Vi Lâm ở Bảo Phước, đích thân tiếp nhận pháp ấn của ngài Cổ Sơn. Ở nơi đạo tràng hơn 20 năm, tông phong được truyền bá rộng rãi, mưa pháp thấm nhuần xa gần, thật là biển Thiền trong một thời !

Ngoài những khi đề xướng Thiền học, Sư cực lực tán dương Tịnh độ. Sư từng nói :

“Lão tăng chí ở nơi tông môn, hạnh ở nơi Tịnh độ.”

. Lời nói này thật là chí lý. Ngài cùng Đại sư Thiên Thai, Vĩnh Minh đều là những bậc đã tự thân tu hành mà còn giáo hóa mọi người. Các vị này đều cùng một lối đi.

Tôi trước nay đắm chìm trong thế gian, hâm mộ cửa Phật muộn màng.

Mùa xuân năm Tân Dậu, tôi từng có nêu lên tám câu hỏi về Tịnh độ nhờ Sư giải bày. Mùa Thu năm nay, lại được Sư từ xa xôi gửi đến quyển Tịnh độ Chỉ Quyết. Trong đó, phần nhiều khai thị niệm Phật gồm những bức thư, lời tựa, hỏi – đáp, kệ tán dẫn rộng lời Phật, Tổ để chứng minh tạo niềm tin vững chắc cho mọi người. Lời lẽ giản dị mà nghĩa lý rất sâu xa.
Tôi kính cẩn đọc tới đọc lui. Sau đó khen ngợi sách ấy thật là thiết yếu. Những người tu Thiền và Tịnh, ngay đây nếu biết quay về nhận lấy quê xưa cảnh cũ của chính mình, thì gọi là Thiền là Tịnh đều là lời nói dư thừa. Nếu chưa được như thế, thì quyển sách này chính là thềm bậc của Tịnh bang mà cũng là chiếc gương quý của Biệt truyền vậy.

Tháng 5, năm Giáp Tý (1684),
Niên hiệu Khang Hy
Đệ tử Cung Tích Viện
Kính ghi.

TỊNH ĐỘ CHỈ QUYẾT

Đại Sư Cổ Sơn Vi Lâm

Pháp môn Niệm Phật các kinh đều khen ngợi. Trong kinh A Di Đà, chư Phật trong sáu phương điều hiện tướng lưỡi rộng dài che khắp ba ngàn thế giới nói lên lời thành thật, chính là vì sợ chúng sanh không tin nổi nên mới làm như thế, để bảo chứng lời nói của các ngài là không giả dối, khiến cho chúng sanh tin chắc.
Bởi đây là pháp khó tin.
Kinh A Di Đà nói :
“Không thể dùng chút ít nhân duyên phước đức căn lành mà được vãng sanh Tịnh độ”.
Pháp khó tin mà tin được tức là người có nhiều nhân duyên, nhiều phước đức, nhiều căn lành.
Một môn Niệm Phật đầy đủ vô lượng pháp môn. Bởi Phật có ba thân, cõi có bốn độ, người tu tịnh nghiệp tùy theo sức mình :
• Hoặc Niệm Phật Pháp Thân nguyện sanh về cõi Thường Tịch Quang.
• Hoặc Niệm Phật Báo Thân nguyện sanh về cõi Thật Báo Trang Nghiêm.
• Hoặc Niệm Phật Hóa Thân nguyện sanh về hai cõi Phương Tiện Hữu Dư và Phàm Thánh Đồng Cư.
Nhưng ba thân chỉ là một thân, bốn cõi nguyên là một cõi, vì đều lấy pháp giới làm thể.
Thế nên, hàng căn cơ viên đốn thì chỉ lấy một mà xuyên suốt tất cả, như Đồng Tử Thiện Tài đầu tiên ở đỉnh núi Diệu Phong tham kiến Tỳ Kheo Đức Vân được pháp Niệm Phật tam muội của ngài Phổ Hiền. Đây tức là hạng người ấy.
Niệm Phật Hóa Thân thì ở Cao Tề có Hòa Thượng Đại Hạnh tôn sùng Niệm Phật.
Ngài nói : “Tứ tự giáo chiếu” 
Nghĩa là :
• Hai chữ “tin nhớ” không rời nơi tâm;
• Hai chữ “xưng kính” không rời nơi miệng.
Bảo rằng vãng sanh Tịnh độ cần phải có lòng tin, ngàn người tin ngàn người được vãng sanh, muôn người tin muôn người được vãng sanh.
Tin danh hiệu Phật không rời tâm và miệng thì chư Phật liền cứu, chư Phật liền độ. Tâm thường nhớ Phật, miệng thường niệm Phật, thân thường kính Phật, như thế mới gọi là tin sâu.
Dù cho sớm hay muộn nhưng rốt cuộc cũng không còn lý do ở lại Diêm Phù Đề nữa. Đây tức là đứng về mặt Niệm Phật Hóa Thân mà vãng sanh cõi Phương Tiện và Đồng Cư. Cảnh sách người mới phát tâm thật rất là thiết yếu. Niệm Phật Báo Thân thì :
• Sáu mươi vạn ức na do tha hằng hà sa do tuần, là thân của Phật.
• Vô lượng vô biên bất khả tư nghì a tăng kỳ kiếp là thọ mạng của Phật.
Nước bốn biển trong ngần mắt biếc, năm Tu Di uyển chuyển bạch hào, ánh sáng không có bờ mé, quyến thuộc chẳng biết được số lượng.
Người hầu cận bên trái là Bồ Tát Quán Âm, bên phải là ngài Thế Chí, vừa xưng danh hiệu thì diệt trừ tội nặng trong sự sanh tử của tám mươi ức kiếp, thoáng nhìn Thánh tượng liền được tướng hảo tám vạn bốn ngàn.

Ôi ! Đã bảo rằng thân Phật rộng lớn 60 vạn ức na do tha hằng hà sa do tuần thì Ta Bà cách Cực Lạc chẳng qua chỉ mười vạn ức cõi.
Nếu vậy thì ba đường đen tối, sáu nẻo luân hồi, tất cả chúng sanh trong thế giới Ta Bà đều ở trong tâm của Phật A Di Đà, luôn luôn nuôi ta lớn, luôn luôn nhiếp thọ ta, luôn luôn phóng quang minh soi sáng ta.
Không biết tại sao chúng sanh chẳng hay chẳng tin chẳng thấy.
Nếu là kẻ thiện nam tử có phước đức căn lành, thấy biết như thế, tin tưởng hướng về, phát nguyện rộng lớn, nguyện vãng sanh cõi nước ấy thì toàn thể tức là đấy, vừa khởi niệm thì đến ngay.
Vậy thì, nào có xa xôi gì ? Nếu có thể Niệm Phật Báo Thân như thế, thì sanh về cõi Thật Báo Trang Nghiêm.
Niệm Phật Pháp Thân thì Luận Đại Thừa Khởi Tín nói :
“Như trong Kinh nói Phật A Di Đà ở thế giới Cực Lạc Tây phương; thế nên tu hành mọi căn lành hồi hướng nguyện vãng sanh thế giới ấy thì liền được vãng sanh, vì thường thấy Phật nên rốt cuộc không thối chuyển.
Nếu quán xét về pháp thân chân như của Phật ấy, thường siêng năng tu tập thì rốt cuộc được vãng sanh, trụ nơi chánh định”.

Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói :
“Phật A Di Đà là thân pháp giới vào khắp trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh. Thế nên các ông khi tâm tưởng Phật thì tâm ấy tức là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Tâm này làm Phật, tâm này là Phật”.
Trời đất đồng cội gốc, muôn vật cùng một thể. Pháp thân của chư Phật là chân tâm bản giác của chúng sanh. Chư Phật không có chứng ngộ chi khác, chỉ hoàn toàn chứng ngộ chân tâm của chúng sanh.
Tâm, Phật, và chúng sanh cả ba không khác biệt. Bảo rằng tâm này làm Phật là nói rõ tức tâm biến hiện, toàn tánh thành tu. Bảo rằng tâm này là Phật là ngoài tâm không có Phật, ngoài Phật không có tâm.
Pháp quán này không chỉ là quán xét bản tánh, mà chính là nương vào quả Phật để hiển bày nơi bản tánh. Bởi vì đồng thể nên trước nói rõ hóa Phật vào nơi tâm tưởng của ta, tiếp theo là trình bày pháp thân Như Lai toàn là tâm thể bản giác của hành giả không hai không khác.
Kinh Đại Phẩm Bát Nhã còn nói :
“Tánh như của các Pháp tức là Phật”. 
Kinh Kim Cang nói :
“Như Lai nghĩa là tánh như của các pháp”, đã lấy NHƯ làm Phật, tất cả pháp đều NHƯ thì pháp gì chẳng phải Phật ?
Cho nên vô minh vọng tưởng điên đảo phan duyên của chúng sanh; cho đến non sông quả đất, cây cối rừng rậm, trâu ngựa heo dê, côn trùng vi tế đều là pháp thân chân tịnh của Phật A Di Đà.  Hành giả nếu có thể Niệm Phật Pháp Thân như thế thì trụ ở nơi chánh định, ắt sanh về cõi Thường Tịch Quang.
Kinh Duy Ma Cật nói :
“Muốn được cõi nước thanh tịnh nên làm tâm mình thanh tịnh. Tùy theo sự thanh tịnh nơi tâm mình mà cõi Phật thanh tịnh”. 
Nhưng phương pháp tịnh tâm thì không có thuật nào khác, chỉ nhất tâm niệm Phật, sáu căn điều thâu nhiếp, đây rất là thiết yếu.
Thế nên bậc cao đức ngày xưa nói  :
“Thanh châu gieo vào nước đục nước đục không thể không trong. Câu niệm Phật gieo vào tâm loạn, tâm loạn tất nhiên an định”.

Tiên Sư nói :
Tâm thanh tịnh thì cõi Phật thanh tịnh, lý này muôn vạn lần khó đổi dời. Nếu còn nghi ngờ thì sẽ chướng ngại sự tiến tu, cũng như sợi tơ sen nhỏ bé nhưng có thể lôi kéo cả voi lớn rong chạy.
“Tâm tịnh cõi Phật tịnh.
Lý này chẳng đổi dời.
Tơ sen nếu chưa đứt.
Hay kéo voi lớn đi”
Đây đều là những lời chân thật.
Thân do cha mẹ sanh ra, tâm từ bóng duyên nơi lục trần, sanh trụ dị diệt dời đổi trong từng niệm, biến hoại mỗi sát na không thể nương tựa. Thế nên, tự mình cần nhìn thấy rõ thân tâm hiện giờ.
Bát Nhã Tâm Kinh nói :
“Quán chiếu thấy năm uẩn đều rỗng không, vượt qua tất cả khổ đau”. 
Bài kệ của Phật Câu Lưu Tôn nói  :
“Thấy thân không thật là thân thật.
Rõ tâm như huyễn là tâm thật.
Rõ được thân tâm vốn tánh không.
Người này với Phật nào khác biệt”.
Hành giả tu tịnh nghiệp nên quán chiếu như thế, hiểu rõ như thế, quán xét thật tướng của thân, quán xét Phật cũng như thế. Bởi vì chúng sanh và Phật là một thể không hai không khác.
Một bộ Kinh Hoa Nghiêm là lời nói đầu tiên trong năm thời của Như Lai, lời bàn cùng cực xứng với tự tánh thênh thang bao dung rộng lớn đầy đủ, mà sau cùng thâu về mười đại nguyện vương của ngài Phổ Hiền, dẫn về Cực Lạc.
Thế nên biết, Cực Lạc là lối tắt dạo biển thế giới trang nghiêm Hoa Tạng, là ngôi nhà an ổn để các bậc Tam hiền Thập thánh, chư đại Bồ Tát nghỉ ngơi. Phật tử chân chánh nên gắng sức tu hành không nên dần dà.
Hợp Luận của Lý trưởng giả thường lấy sự Quyền và Thật của Tịnh độ để so sánh lẫn nhau, là bởi vì y cứ vào lý mà nói, muốn hiển bày Tam thừa chỉ rõ Tịnh độ ở phương khác là quyền biến, Hoa Nghiêm nhất thừa duy tâm Tịnh độ là chân thật.
Nhưng mà nếu chẳng có chân thật thì không thể lập bày quyền biến, chẳng có quyền biến thì không thể hiển bày chân thật. Quyền biến và chân thật đều tỏ bày là Tịnh độ Hoa Nghiêm, đến như đông tây nam bắc, nhơ sạch, lớn nhỏ mỗi mỗi đều là pháp giới vô tận bao hàm thâu nhiếp lẫn nhau.
Dùng Thập Huyền Lục Tướng dung thông mới được tận cùng đạo lý. Người đọc nên khéo được ý, đừng vướng mắc vào nơi ngôn ngữ.

ĐÁP TÁM CÂU HỎI TỊNH ĐỘ CỦA CƯ SĨ CUNG NGẠN TRAI

Hỏi : Vào đạo nhiều môn mà Thiền tông, Tịnh độ đường lối tuy khác nhưng chỗ về là một, vốn không phân biệt hơn kém .
Song, tham thiền lấy tỏ ngộ làm kỳ hạn, một khi công phu đạt tới thì đời này liền được liễu ngộ; tu Tịnh độ lấy vãng sanh làm tiêu chuẩn, trì niệm tuy chuyên nhưng đến lâm chung mới được vãng sanh. Như thế thì cũng có trước sau, mau chậm khác nhau chăng ?
Nói về việc tham cứu “niệm Phật là ai”, cùng với khán “thế nào là bản tánh Di Đà”, thì đây vẫn là công phu tham cứu. Những kẻ căn cơ thấp kém vốn chưa thể làm được.
Nếu chỉ đơn giản trì một câu Phật hiệu mà muốn được lúc sống có lợi ích ngộ đạo, khi chết được niềm vui vãng sanh, thì dùng phương pháp gì để mong được vậy ?
Xin Sư chỉ dạy rõ !
Đáp  : Niệm Phật có niệm về mặt Lý, có niệm về mặt Sự.
Nếu niệm Phật về mặt Sự thì chỉ nhất tâm niệm, quan trọng là khiến cho chữ chữ phân minh câu câu tương tục. Nếu chẳng rõ ràng tức là hôn trầm, chẳng tương tục tức là tán loạn. Không hôn trầm, không tán loạn, một câu Phật hiệu rõ ràng hiện tiền, lâu dần tự nhiên thành tựu Niệm Phật tam muội.
Niệm về mặt Lý là thấu suốt được tâm hay niệm và Phật được niệm hiện tiền là do nhân duyên hợp thành vốn không có gì, ngay nơi bản thể là tánh không. Như thế là niệm mà vô niệm.
Tuy là tánh không mà tâm hay niệm và Phật được niệm rõ ràng hiện tiền, như thế tức vô niệm mà niệm.
Song niệm mà vô niệm là pháp Quán Không. Vô niệm mà niệm là pháp Quán Giả. Không và Giả chẳng hai thì pháp thân hiện bày, đó là pháp Quán trung đạo.
Nếu có thể tương ưng với quán hạnh nầy thì biết rõ Ta Bà và Tịnh độ chỉ ở một nơi, Di Đà và chính mình vốn chẳng phải là hai người khác biệt.
Niệm Phật như thế thì vãng sanh Tịnh độ ắt lên thượng phẩm. Đó gọi là :
Sanh thì quyết định sanh,
Đi thì thật không đi.
Nếu chưa rõ lý tánh thì đều chấp chặt bên phương diện có, đâu biết đạo lý niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm. Lý đã chưa tỏ mà muốn cầu tương ưng thì thật khó khăn.
Nay chẳng quản là Sự là Lý chỉ lấy một câu Phật hiệu nhất tâm trì niệm.
Bạch Hương Sơn nói :
Đi cũng A Di Đà, ngồi cũng A Di Đà, cho dù bận rộn đến đâu cũng chẳng rời câu A Di Đà Phật, lâu dần thuần thục thành tựu chánh định, tự nhiên rỗng rang thì tỉnh giác tỏ sáng không mờ, khi ứng đối thì không quên chánh niệm.

Hỏi : Trì giới là nền tảng của sự tu hành; Không sát sanh là căn bản của đại giới.
Vả lại : Nhân giới mà sanh định. Nhân định mà sinh tuệ, thì giới là đứng đầu.
Nhưng người tại gia nhiễm sâu nghiệp nặng tập khí nhiều đời khó đổi dời.
Hơn nữa từ trung niên trở về sau thân thể yếu đuối nhiều bệnh, khổ nỗi chưa dứt được việc ăn mặn, lẽ nào còn nghiệp mà được vãng sanh ?
Chư Phật từ bi chẳng ngại gì mở ra một con đường Tịnh độ, nhưng vẫn còn tâm qua lại lấy bỏ nên khó thoát khỏi ba đường, nhân quả trả vay đâu thể lên ngôi thượng phẩm. Như thế thì làm sao để được thoát ra ?
Đáp : Không thể trì trai giữ giới là bệnh chung của người giàu sang. Thuở xưa Mã Tổ đáp Liêm Sứ ở Hồng Châu hỏi về việc ăn thịt rằng :
“Ăn thịt là lộc của ông;
Không ăn thịt là phước của ông”.
Không ăn thịt đã là phước thì ăn thịt ắt mắc tội. Điều ấy quá rõ ràng.
Tô Đông Pha thông minh cái thế, thông suốt Phật lý nhưng vẫn không khỏi ăn thịt chúng sanh, Hoàng Sơn Cốc suốt đời trai giới trong sạch, làm văn phát nguyện, tự khích lệ thống thiết, từng làm kệ răn nhắc Tô Đông Pha :
Thịt ta, thịt chúng sanh
Hình khác, thể không khác
Vốn đồng một chủng tánh
Chỉ cách biệt dạng hình
Khổ nào chúng phải chịu
Vì ta cần béo ngọt
Chớ bảo Diêm Vương phán
Tự xét xem thế nào ?
Bài kệ này dạy người rất là xác đáng, nên hành giả tu tịnh nghiệp cần phải xét nét :
Ta ăn một miếng thịt, chúng sanh chịu khổ vô cùng, do nghĩ về nỗi khổ của chúng sanh nên không ăn thịt. 
Song việc còn nghiệp mà được vãng sanh thì trong giáo lý có nói rõ ràng, chỉ là phẩm không cao mà thôi. Bậc đại trượng phu nên kỳ hẹn thượng phẩm, há lại tự hạn cuộc mình ở chỗ mang nghiệp vãng sanh ?
Hỏi : Từ khi tu Tịnh độ đến nay vẫn hiểu thế giới giả dối, thân thể huyễn hóa, tương đối cũng có tỉnh giác nhưng lại lo lắng là đột nhiên nương theo giả dối mà chóng sinh khởi vọng tâm.
Hoặc trong lúc cùng khốn vẫn ở nơi huyễn hóa mà thường phát sinh tư tưởng huyễn, như thế thì có thể hiểu mà không thể chứng ngộ, nói được mà không làm được.
Tịnh đức nầy khó thành tựu, còn tâm nhiễm thì thật dễ sa đọa. Nay muốn làm cho điều dễ sa đọa không sa đọa, điều khó thành tựu rốt ráo được thành tựu.
Thế thì phải tu trì pháp gì mới có thể đạt được mục đích ?
Đáp : Chướng có dày mỏng, ngộ có cạn sâu. Chỗ không tương ưng đều do cái thấy chưa thấu triệt, thực hành chưa thuần thục, chạm cảnh gặp duyên vẫn còn dao động. Đó là bệnh chung của người mới tu hành, chỉ có người trí, tức ở chỗ không tương ưng hằng luyện khắc khổ, chân thật nhìn thấu rõ, một niệm soi sáng trở lại, ngay đó điều phục an lạc. Đã lâu dần thì tập thành tánh tự nhiên chẳng phí sức.

Hỏi : Khi niệm Phật tâm này tuy chưa đạt đến chỗ không loạn nhưng cũng không đến nỗi thất niệm hoàn toàn. Chỉ về đêm lúc ngủ, nằm mộng còn cảm thấy tập khí từ trước hiện ra đủ thứ, đâu không phải là điều thuần thục thì khó quên, nghiệp tập nhiều đời chẳng phải tạm thời thắng được hay sao ?

Trong chiêm bao còn khó làm chủ thì đối với việc sanh tử đâu tránh khỏi nổi chìm.

Nay muốn học theo người xưa ngồi mãi không nằm mà sức lực yếu đuối, cố ý nguyện học mà chưa được. Nếu như người thường, ban đêm ngủ, ban ngày ăn thì phân chia khi mê lúc tỉnh, e khó mà như một. Nay phải dùng phương pháp gì để khiến cho thức ngủ như một, ông chủ tỉnh tỉnh luôn có mặt ?

Đáp

: Hành giả tu tịnh nghiệp, lúc thanh thiên bạch nhựt đối với cảnh phải quấy thương ghét hỗn tạp, thường thường bị mất chánh niệm, theo cảnh mà trôi nổi, huống gì trong lúc chiêm bao.

Nói chung, đều do tình Ta Bà nặng, niệm Tịnh độ nhẹ, đem tâm mà cân lường thì một bên cao, một bên thấp.

Nay chỉ chân thật nhìn thấu rõ mọi việc ở thế giới Ta Bà đều là đau khổ, đều là giả dối, không có việc gì chân thật đáng để lưu luyến, buông bỏ muôn duyên nhất tâm niệm Phật.

Ban ngày, lúc mở mắt nếu không mất chánh niệm, thì ban đêm khi chiêm bao tự nhiên chánh niệm cũng không mất. Trong chiêm bao đã không mất chánh niệm thì lúc chết chánh niệm hiện tiền không mất.

Đại Sư Trí Giả ở Thiên Thai nói :

“Lúc lâm chung, tâm ở nơi định tức là lúc vãng sanh Tịnh độ”.

Cảnh thức ngủ như một gần với chỗ này.

Hỏi : Người xưa khi chưa rõ việc lớn ắt quý việc gần gũi minh sư, sớm chiều thưa thỉnh để mong cầu thấu triệt.

Thế nên “ba lần lên, chín lần đến”, ngày xưa có tương truyền thấy tánh như Triệu Châu còn phải hành cước lúc tuổi tám mươi.

Nay người tu Tịnh độ tuy chỉ trì niệm một câu Phật hiệu cũng mong được thấu rõ tâm tánh, chỉ có một mà thôi. Còn người tại gia thì thời gian và nơi chốn bị giới hạn đã không được như người xuất gia đi ngàn dặm để học đạo.

Chúng ta dù có tạm thời gần gũi bậc đạo sư cũng không được như người xuất gia thoát tục, sáng chiều đối diện chỉ là vợ con quyến thuộc, mắt thấy tai nghe đều là việc chướng đạo nghiệp lụy, nhứt quyết muốn cắt đứt dứt hẳn, thân cận với bậc thiện tri thức thì tất phải xuất gia rời thế tục, dù còn ở trong nhà cũng tự phải có phương tiện khéo léo mới được. Rất muốn được nghe việc nầy !

Đáp : Hành giả tu Thiền hay tu Tịnh, chẳng luận là tại gia hay xuất gia hãy xem nguyên nhân phát tâm có chân thật hay không.

Nếu quả như phát tâm chân thật thì tuy ở nhà đoàn tụ với vợ con quyến thuộc nhưng trí tuệ vẫn sáng suốt không bị trở ngại. Xưa nay mắt thấy tai nghe những người tại gia đắc đạo rất nhiều, rõ ràng có thể khảo sát, cần gì mọi người đều phải xuất gia tham vấn, sau đó mới có thể học đạo.

Thế nên phẩm Tịnh Hạnh trong Kinh Hoa Nghiêm bảo hành giả phải khéo dụng tâm, chạm cảnh gặp duyên thường phát một trăm bốn mươi nguyện. Nguyện thứ nhất nói rằng :

Bồ tát tại gia

Nên nguyện chúng sanh.

Biết nhà tánh không

Khỏi sự bức bách.

Nếu quả thật biết rõ bản chất của gia đình vốn rỗng không, thì tất cả tùy duyên. Tham luyến vướng mắc khi bồng con, đùa cháu, vui cười, mắng giận đều đủ để khai phát bản tánh, hỗ trợ cái nhìn chân chính. Như thế thì đâu cần phân biệt tại gia xuất gia.

Nếu người phát tâm không chân thật thì không chỉ tại gia chẳng đắc đạo, mà ngay cả xuất gia cũng chỉ là ông tăng đi theo cơm áo mà thôi.

Hỏi : Người xưa tham thiền có vị tu hai, ba mươi năm giữ một câu thoại đầu mà còn chưa thấu triệt.
Ngay cả như ngài Triệu Châu còn bốn mươi năm không dụng tâm xen tạp, Thiền sư Hương Lâm bốn mươi năm mà con trâu còn rong chạy, huống gì người khác.
Nay niệm một câu Phật hiệu và tham một câu thoại đầu chỉ là một, mà tuổi đã quá năm mươi, sắc thân mỗi ngày suy yếu bởi già bệnh nên càng thêm lụm cụm, rất muốn một đời xong xuôi, nhưng e từ đây trở về sau chưa hẳn đã có hai, ba mươi năm công phu đạt đến cảnh giới An Dưỡng.
Cảnh giới An Dưỡng chẳng phải là việc dễ dàng qua loa mà đạt đến được, phải thực hành thế nào mới toại nguyện ?
Cúi mong Sư chỉ rõ để nhắc nhở tiến thêm !
Đáp : Tham thoại đầu chính là công phu vào cửa của người mới tu.
Còn Triệu Châu bốn chục năm không dụng tâm xen tạp, Hương Lâm bốn chục năm mà con trâu còn rong chạy là con đường diệu huyền thực hành sau khi ngộ.
Thế nên, gọi học Phật học Pháp là dụng tâm xen tạp, rơi vào tình phàm phu, kiến giải thánh đều là rong chạy. Như thế thì đâu thể xét chung với việc khán thoại đầu được.
Thế Tôn ở ngoài pháp môn Tam thừa, riêng mở ra một môn Tịnh độ gọi là phương tiện thù thắng, gọi là lối tắt tu hành, còn gọi là ra khỏi ba cõi theo chiều dọc.
Thiền sư Vĩnh Minh gọi là:
 “Muôn người tu thì muôn người vãng sanh”.
Bởi vì dựa vào lòng tin, thực hành, phát nguyện của chính mình, và sức mạnh từ bi nhiếp thọ của Phật A Di Đà, Quán Âm, Thế Chí, chư đại thánh chúng thì như xuôi buồm thuận gió tiến thẳng đến bờ bên kia, có gì gian nan hiểm trở.
Thế nên người tạo mười điều ác, chỉ trong mười niệm còn được vãng sanh, chim Oanh Vũ theo vị tăng niệm Phật còn được thoát kiếp chim lồng, hoa sen mọc lên từ lưỡi.
Huống gì bậc nam tử đầy đủ niềm tin chân chánh và phước huệ, nhất tâm niệm Phật mà không được vãng sanh hay sao ?
Cần gì lo lắng phải công phu hai ba mươi năm sau đó mới được thành tựu. Chỉ e lòng tin không vững chắc, niệm Ta Bà sâu nặng còn tâm Tịnh độ cạn mỏng thì chẳng tương ưng.
Như thế là ở nơi nhân giả tự cố gắng hết lòng mà thôi.
Ngày xưa có vị quan tên là Ngô Tử Tài ở nhà chuyên tu Tịnh độ, tự đặt một chiếc quan tài trong nhà thường nằm trong đó, sai đồng tử mỗi sáng gõ vào quan tài, gọi dậy ca lên rằng   :
Ngô Tử Tài !
Về đi thôi
Ba cõi không an, chớ nên ở.
Tây phương Tịnh độ có Liên Đài.
Đó chính là lo lắng thói quen xấu ác ràng buộc mà tự làm việc đối trị. Như thế mới mong được dễ dàng thành tựu Niệm Phật Tam Muội.

DẠY THIỀN NHÂN ĐỨC CHƯƠNG

Thượng tọa Đức Chương trở về Duy Dương ở vườn Cực Lạc, buông bỏ mọi việc tiến tu tịnh nghiệp. Lại không ngại mấy ngàn dặm xa xôi gửi thư đến, hỏi về pháp tu Tịnh độ.
Tôi bảo : Người tu tịnh nghiệp trước phải nhìn thấu mọi thứ tệ ác trong cõi Ta Bà đều là đau khổ, chẳng sanh tâm tham luyến.
Sau đó chuyên tâm hướng về Tịnh độ, mỗi ngày đọc tụng kinh điển Đại thừa, nhứt tâm niệm Phật, phát nguyện hồi hướng. Năm tháng tích lũy lâu dài tự nhiên thành tựu Niệm Phật Tam Muội. Đó gọi là muôn người tu, thì muôn người vãng sanh.
Song, niệm Phật đủ vô lượng pháp môn, nhưng chỉ có pháp Trì Danh Niệm Phật là thẳng tắt nhất. Kinh A Di Đà nói :
“Chấp trì danh hiệu hoặc một ngày, hai ngày cho đến bảy ngày nhất tâm không loạn động. Người ấy lúc sắp mạng chung Phật A Di Đà cùng chư Thánh chúng hiện ra trước mắt. Người ấy lâm chung tâm không điên đảo liền được vãng sanh cõi nước Cực Lạc Phật A Di Đà”.
Chính là nói điều này. Nhất tâm không loạn động là nói pháp Niệm Phật cần phải không gấp không hưỡn, quan trọng là khiến cho mỗi chữ mỗi chữ rõ ràng, mỗi câu mỗi câu liên tục.
Bởi vì không liên tục thì ý niệm duyên theo ngoại cảnh, như thế không phải là nhứt tâm. Không rõ ràng thì mờ tối tâm liền rối loạn. Rời hai bệnh này mới là khéo biết niệm Phật.
Nay bất luận là sự hay lý chỉ đem một câu A Di Đà Phật nhất tâm trì niệm, lòng tin chân thật tha thiết tự nhiên được tương ưng.
Chư Phật trong sáu phương đều hiện tướng lưỡi rộng dài che khắp ba ngàn thế giới, nói lời thành thật chính là vì sợ chúng sanh không tin nổi.
Kinh Hoa Nghiêm quy hướng mười đại nguyện vương của Bồ Tát Phổ Hiền dẫn về Cực Lạc. Vì thế ông nên luôn luôn nghiền ngẫm kỹ để bồi đắp lòng tin chân chánh, không thể xem thường.

THƯỢNG TOẠ VIÊN HẠNH Ở ÔN LĂNG THỈNH KHAI THỊ TỊNH ĐỘ

Sư bảo :
Hôm nay là do Thượng tọa Viên Hạnh ở am Bách Nguyên, hướng dẫn các đạo hữu trong Liên Xã thiết lập trai đàn, mời sơn tăng lên tòa khai thị pháp môn Tịnh độ. Sơn tăng chủ trì tông môn mà kỳ thật là tu trì tịnh nghiệp trọn vẹn.
Khổng Tử nói :
“Chí của ta ở nơi Xuân Thu, mà hạnh thì ở nơi Hiếu Kinh”.
Sơn tăng cũng trộm bảo :
“Chí của tôi ở nơi Thiền tông, mà hạnh thì ở nơi Tịnh độ”.
Cho nên hôm nay không từ nhọc nhằn ở trước đại chúng nhận lấy một phen bại trận, mặc cho người sáng mắt kiểm điểm. Đại chúng có biết hay chăng ?
Tịnh độ của Phật A Di Đà, chư Phật trong mười phương cùng nhau khen ngợi; các Tổ sư bao đời khác miệng cùng lời, nói rằng :
“Đây là con đường thẳng tắt về nhà rất là an ổn”.
Không luận là tăng tục, sang hèn, nam nữ, chỉ cần nhất tâm niệm Phật thì quyết định vãng sanh; vừa thấy Phật Di Đà là mãi mãi bước lên hàng bất thối, luôn luôn nghe pháp, mỗi niệm mỗi niệm tiến đến Phật quả. Công đức lợi ích ấy thật chẳng thể nghĩ bàn !
Song, những người tham thiền cận đại không rõ ý chỉ, thường chấp Di Đà trong tự tánh, Tịnh độ nơi duy tâm, không tin pháp môn Tịnh độ, thậm chí còn truyền rộng tà thuyết này làm hủy hoại niềm tin của mọi người. Những kẻ ấy không chỉ tự mình sai lầm mà còn làm cho người khác bị sai lầm theo.
Thế nên đương thời, Thiền sư Diên Thọ ở chùa Vĩnh Minh từng răn dạy sâu sắc những người không chứng ngộ chớ nên xem thường Tịnh độ. Ngài còn làm Tứ Liệu Giản bảo rằng :
1-    Có Thiền, không Tịnh độ
Mười người, chín lạc lối
Lúc Ấm cảnh hiện ra
Liền theo đó mà đi.
Nghĩa là chỉ rõ lý tánh mà không nguyện vãng sanh. Ở lâu dài nơi Ta Bà thì có nỗi lo về Ấm cảnh, như năm mươi loại ấm ma trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, chính là nói điều này.
2-  Không Thiền, có Tịnh độ
Muôn tu muôn vãng sanh
Chỉ được thấy Di Đà
Lo gì chẳng khai ngộ.
Nghĩa là tuy chưa rõ lý tánh, chỉ nhất tâm niệm Phật phát nguyện vãng sanh, đã gặp Phật A Di Đà thì tự nhiên khai ngộ.
3-  Có Thiền, có Tịnh độ
Như cọp mọc thêm sừng
Đời nay làm thầy người
Đời sau làm Phật Tổ.
Nghĩa là rõ lý tánh lại tu Tịnh nghiệp, đây chính là nhân quả thù thắng vi diệu lợi mình lợi người đời đời kiếp kiếp.

4-  Không Thiền, không Tịnh độ
Giường sắt với cột đồng
Trải muôn kiếp ngàn đời
Không một ai nương tựa.
Nghĩa là đã không rõ lý tánh lại chẳng nguyện vãng sanh, mãi đắm chìm trong biển khổ, biết ngày nào ra khỏi.
Thiền sư Diên Thọ hết lời đinh ninh dạy bảo như thế; có thể thấy rằng Phật không thể không niệm, Tịnh độ không thể không vãng sanh.
Điều đó quá rõ ràng. Lẽ nào lại chấp suông vào sự hiểu biết cuồng dại mà tự để lại lo lắng về sau.
Trong đại chúng tương đối cũng có người tin tưởng hướng về, nhưng chẳng qua chỉ là thả trôi qua ngày, miệng tuy nói về Tịnh độ nhưng tâm ràng buộc chốn Ta Bà.
Cho nên người niệm Phật thì nhiều như lông trâu mà người vãng sanh lại ít như sừng lân. Không bảo rằng hoàn toàn không có, chỉ là rất hiếm mà thôi. Do đó sơn tăng thường khuyên đệ tử tu tịnh nghiệp phải đủ ba loại tư lương.
  –    Một là phát khởi lòng tin vững chắc.
–    Hai là tu hạnh chân thật.
–    Ba là phát nguyện rộng lớn. 

* Sao gọi là lòng tin vững chắc ?
Nghĩa là phải tin Ta Bà quyết định là đau khổ, Tây Phương quyết định là an vui. Phật A Di Đà, Bồ Tát Quán Âm, Thế Chí hiện đang ở thế giới Ta Bà này thâu nhận chúng sanh niệm Phật vãng sanh Tịnh độ, điều đó quyết định không giả dối.
Lại phải tin rằng Phật A Di Đà là thân pháp giới vào khắp trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh.
Khi chúng sanh niệm Phật thì : Tâm này tức là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Tâm này làm Phật, tâm này là Phật.
Như trong Kinh Hoa Nghiêm, trưởng giả Giải Thoát nói :
“Nếu ta muốn thấy Phật A Di Đà ở thế giới An Lạc thì tùy ý liền thấy ngay”.
Tin được như thế mới là lòng tin vững chắc.
* Sao gọi là tu hạnh chân thật ?
Nghĩa là người tu tịnh nghiệp trước phải nhìn thấu bản chất của thế gian, buông bỏ muôn duyên, trong bốn oai nghi suốt 24 giờ đem một câu A Di Đà Phật trực tâm trì niệm.
Điều quan trọng là khiến cho mỗi chữ mỗi chữ rõ ràng, từng câu từng câu liên tục. Niệm đến khi không niệm mà tự niệm, niệm mà không niệm.
Dù gặp cảnh duyên đủ mọi sai biệt nhưng câu niệm Phật này vẫn rõ ràng hiện tiền. Trong sinh hoạt hằng ngày, niệm Phật như thế mới là hạnh chân thật.

* Sao gọi là phát nguyện rộng lớn ?
Trên hội Hoa Nghiêm, Bồ Tát Phổ Hiền phát mười nguyện lớn rồi, lại còn phát nguyện rằng :
“Nguyện con đến lúc sắp lâm chung
Diệt trừ tất cả các chướng ngại
Tận mặt gặp Phật A Di Đà
Liền được vãng sanh cõi Cực Lạc
Con đã vãng sanh cõi kia rồi
Hiện tiền thành tựu nguyện lớn này
Tất cả tròn đầy không thiếu sót
Lợi lạc hết thảy các chúng sanh
Chúng hội Phật ấy đều thanh tịnh
Con từ hoa sen nở sanh ra
Tận mắt thấy Phật Vô Lượng Quang
Hiện tiền thọ ký quả Bồ đề
Con được Như Lai thọ ký rồi
Hóa thân vô số muôn ngàn ức
Trí lực rộng lớn khắp mười phương
Lợi ích khắp cả các chúng sanh”.
Phát nguyện như thế mới gọi là rộng lớn.
Bởi vì nếu nguyện không rộng lớn tức là nguyện nhỏ hẹp; hạnh không chân thật tức là hạnh giả dối; lòng tin không vững chắc tức là lòng tin nông cạn.
Người như thế mà muốn được vãng sanh thì thật rất khó khăn.
Nếu lòng tin đã vững chắc, hạnh lại chân thật; phát nguyện rộng lớn thì cũng như xuôi buồm thuận gió tiến thẳng đến bờ bên kia, có gì là gian nan hiểm trở ?
Lại cần phải biết :
Thế giới Ta Bà, sáu nẻo luân hồi chịu mọi thứ đau khổ, chỉ là do một chữ “Ái”;
Thế giới Cực Lạc thọ hưởng đủ mọi niềm vui, nhất định tiến đến chỗ thành Phật chỉ là do một chữ “Tịnh”.
Thế nên bậc cao đức ngày xưa nói :
“Ái không nặng, không sanh Ta Bà
Niệm không tịnh, không sanh Tịnh độ”. 

Do đó, người tu tịnh nghiệp cần phải mạnh mẽ cắt đứt duyên ái, siêng năng tu tập tịnh niệm.
Lúc tịnh niệm thành tựu tức là khi hoa nở thấy Phật, đã thấy Phật rồi mới biết tuy trọn ngày niệm Phật mà chẳng trái với vô niệm, rõ ràng vãng sanh mà không trái với vô sanh.
Phàm và Thánh đều ở nơi vị trí của mình mà đạo cảm ứng qua lại.
Đông tây chẳng qua lại mà thần thức siêu sanh Tịnh độ.
Nghiệp hệ lụy chẳng thể buộc ràng, lửa trong kiếp thiêu chẳng thể đốt cháy, trừ bỏ năm tướng suy hao trên cõi trời, không còn tám nỗi khổ đau của nhân gian.
Gió thổi vi vu lay cành lá, sóng nước xao động lấp lánh ánh vàng, thiên nhạc diễn thuyết pháp khổ không, chim linh tuyên bày diệu pháp. Chẳng nhờ vào pháp thuật nào khác chính là quê xưa cảnh cũ của chính mình.
Các ông rõ biết hay chăng ?
Tự chẳng muốn về, về liền được
Cảnh đẹp Ngũ Hồ có ai tranh ?
Đại chúng đã đứng lâu rồi.
Trân trọng !

DẠY THƯỢNG NHÂN DUY TƯỜNG

Ngày xưa Thế Tôn ở trong tam thừa riêng biệt mở ra một môn Tịnh độ, gọi là lối tắt tu hành, cũng gọi là vượt khỏi ba cõi theo chiều ngang. Vốn bảo rằng niệm Phật vãng sanh rất dễ dàng.
Thời nay người niệm Phật thì nhiều, người vãng sanh thì ít. Tại sao như thế ? Bởi vì chẳng nhìn thấu Ta Bà, chẳng tin sâu Cực Lạc.
Ta Bà tệ ác đủ mọi bức bách, có chỗ nào mà nhìn không thấu suốt; Cực Lạc y báo chánh báo vô vàng thù thắng.
Chư Phật trong mười phương, các Tổ sư bao đời đinh ninh hết lời khuyên bảo vãng sanh, có chỗ nào mà không tin ? Nếu thật sự không tin, không nhìn thấu suốt tức là chúng sanh ngu si không trí tuệ, mù tối, chỉ lo việc trước mắt mà chẳng lo sợ về sau. Thế thì nỗi khổ sau này chưa biết bao giờ kết thúc.
Chỉ có người trí mới nhìn thấu mọi việc ở thế giới Ta Bà, tin rõ ràng nơi thế giới Cực Lạc. Sau đó buông bỏ muôn duyên trong bốn oai nghi nhứt tâm trì niệm một câu A Di Đà Phật này.
Điều quan trọng là khiến cho mỗi chữ mỗi chữ rõ ràng, từng câu từng câu liên tục. Niệm đến khi nhất tâm không loạn động, hoa nỡ thấy Phật mới hay niệm tức là Phật, Phật tức là niệm; niệm chẳng phải niệm, Phật chẳng phải Phật; Di Đà và chính mình hoàn toàn là một, Cực Lạc – Ta Bà trở nên đồng nhất.
Sau đó đem pháp như thế, độ chúng sanh như thế, kỳ hẹn phẩm cao nhất trong chín phẩm, dung hội ba kỳ kiếp trong một đời, trên báo đáp bốn ân, dưới cứu giúp ba cõi.
Như thế mới là người Phật tử chân chánh.
Thời gian chẳng đợi người,
Ai nấy nên tự cố gắng.
Trân trọng !

DẠY ĐẠO GIẢ VƯƠNG LIÊN THẬT

Sư bảo :
Đạo giả thờ Phật, ăn chay, dốc lòng tu tịnh nghiệp, còn mời sơn tăng dạy bảo yếu chỉ Tịnh độ để làm công cứ, mà ông có thể hội chăng ?
Nghiệp thiện nghiệp ác đều do tâm tạo,
Uế độ, Tịnh độ đều từ tâm sanh.
Do đó Thế Tôn nói  :
•    Tâm ngay thẳng là Tịnh độ của Bồ Tát. Khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sanh không xiểm nịnh đến sanh trong thế giới của Ngài.
•    Tâm sâu xa là Tịnh độ của Bồ Tát. Khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sanh đầy đủ công đức đến sanh trong thế giới của Ngài.
•    Tâm Đại thừa là Tịnh độ của Bồ Tát. Khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sanh Đại thừa đến sanh trong thế giới của Ngài.
Cho đến bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ đều là Tịnh độ của Bồ Tát.
Khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sanh đầy đủ lục độ sanh về trong thế giới của Ngài.
Thế nên nói :
“Muốn được Tịnh độ nên làm thanh tịnh tâm mình. Tuỳ theo sự thanh tịnh của tâm mình mà cõi Phật thanh tịnh”. 
Dám hỏi :
Rốt cuộc làm sao để được tâm thanh tịnh ?
Đạo giả có tỏ rõ hay chăng ?
Xưa nay không một vật
Bụi bặm bám vào đâu ?
Vừa niệm A Di Đà
Tịnh độ sen đã nở.
Ngũ trược vốn thanh tịnh
Tam kỳ chẳng an bày
Người người trong nhà lửa
Đều ngồi đài sen báu.
Trân trọng ! !

VĂN KHUYÊN NIỆM PHẬT

Nói về tình người thì không ai chẳng chán khổ ưa vui, bỏ khổ lấy vui.  Hiện nay có sự khổ đau cùng cực mà không biết chán nản rời bỏ; có niềm vui tột bực mà chẳng biết ưa thích nhận lấy.
Như thế không phải là rất mê lầm hay sao ?
Sự khổ đau cùng cực chính là nơi thế giới kham nhẫn này, sanh già bệnh chết đủ mọi sự bức bách.
Niềm vui tột bực chính là thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà ở phương Tây, y báo chánh báo thanh tịnh trang nghiêm.
Bậc cao đức ngày xưa, vì thấy chúng sanh mãi mê lầm không thấu suốt sự khổ đau và an vui nên mới so sánh giữa Ta Bà và Tịnh độ.
Nói rằng :
Ở cõi này loài người bẩm thọ thân hình huyết nhục, có sanh là có khổ; cõi kia thì chúng hữu tình đều hóa chất nơi hoa sen, không còn sự khổ về sanh.
Ở cõi này thời tiết đổi dời, con người lần lần đi đến cảnh già yếu; cõi kia là thế giới trường xuân, không có đêm, ngày, nóng, lạnh, chúng sanh không bị sự khổ suy già.
Ở cõi này con người thân tứ đại khó điều hòa, dễ sanh nhiều bệnh hoạn; cõi kia thì chúng sanh thể chất kim cương thơm sạch, không có sự khổ về yếu đau.
Ở cõi này ít ai sống đến bảy mươi, cơn vô thường mau chóng; cõi kia thì chúng sanh thọ số đến kiếp vô lượng vô biên, không có sự khổ về chết.
Ở cõi này con người bị sợi dây thân tình ái luyến ràng buộc, chịu đau khổ vì nỗi tử biệt sanh ly; nơi cõi kia chúng sanh hóa thân nơi hoa sen, không có cha mẹ vợ con, nên không bị khổ về ân tình chia cách.
Ở cõi này ai không có kẻ thương người ghét, nên khi oán thù gặp gỡ tất phải chịu nhiều nỗi phiền não gian truân; nơi cõi kia toàn bậc thiện nhân dắt dìu giúp đỡ lẫn nhau, không có sự khổ về oan gia hội ngộ.
Ở cõi này con người phần nhiều nghèo khổ thiếu kém, dù kẻ giàu sang cũng có biết bao ước vọng không thành; nơi cõi kia, sự thọ dụng về ăn, mặc, ở, các thứ trân bảo, bao nhiêu đều mong muốn, đều được hóa hiện tự nhiên, chúng sanh an vui, không có nỗi đau buồn về thất vọng.
Ở cõi này con người hoặc hình thể xấu xa, các căn không đủ; cõi kia chúng sanh đều có 32 tướng tốt, thân kim cương xinh đẹp, có ánh quang minh.
Ở cõi này chúng sanh xoay vần trong sáu nẻo luân hồi, nơi cõi kia bậc thượng thiện đều chứng vô sanh pháp nhẫn.
Ở cõi này có đủ bốn ác thú khổ não; nơi cõi kia tên ba ác đạo hãy còn không.
Ở cõi này nhiều gò nổng hang hố, rừng rậm chông gai, dẫy đầy các tướng nhơ ác; nơi cõi kia thì vàng ròng làm đất, cây báu vút trời, lầu chói trân châu, hoa đua bốn sắc.
Ở cõi này thì Song Lâm đã khuất, Long Hoa còn xa; nơi cõi kia, Di Đà Thế Tôn hiện đang thuyết pháp.
Ở cõi này thì Quán Âm, Thế Chí, luống mến danh lành; nơi cõi kia, chư Bồ tát thiện nhân hằng làm thắng hữu.

Ở cõi này thì các ma cùng ngoại đạo, làm não loạn bậc chánh tu; nơi cõi kia, Phật hóa tính thuần, ngoại ma tuyệt tích.
Ở cõi này thì sắc thinh danh lợi, khiến mê hoặc người tu; nơi cõi kia, y chánh sạch nghiêm, không còn duyên nhiễm.
Ở cõi này thì ác thú muỗi mòng, khiến hành nhân không yên ổn; nơi cõi kia, nhạc cây chim nước hằng nói pháp âm.
So sánh lược qua hai cõi, cảnh duyên hơn kém thật đã cách xa, nếu nói cho kỹ thì sự ưu việt làm sao kể xiết !
Nay theo đây mà xét kỹ thì nỗi khổ ở Ta Bà đã như thế, niềm vui Cực Lạc đã như kia mà người đời mịt mờ đến nỗi không biết ưa thích chán nản, lấy kia bỏ đây. Đều do tập khí hư vọng nhiều đời che đậy tự tâm, trí tuệ chẳng phát sanh, xét lý không sáng tỏ.
Than ôi !
Người không lo xa ắt có buồn gần.
Người đời đều biết có ngày sẽ chết mà chẳng vì đó chọn lựa nơi tốt đẹp cho thân sau, thật là một lối đi rất sai lầm.
Cho nên Thế Tôn ra đời, dùng nhiều thứ phương tiện khuyên người niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh độ, đều là chỉ dạy mọi người một con đường đi.
Kinh A Di Đà nói :
“Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn nghe nói về Phật A Di Đà bèn chấp trì danh hiệu, hoặc một ngày hoặc hai ngày cho đến bảy ngày nhất tâm không loạn động. Người ấy lúc sắp lâm chung Phật A Di Đà cùng chư thánh chúng hiện ra trước mắt.
Khi người ấy lâm chung tâm không điên đảo liền được vãng sanh cõi nước Cực Lạc Phật A Di Đà”.

Một ngày, hai ngày cho đến bảy ngày nhất tâm niệm Phật còn được vãng sanh. Huống chi một tháng một năm cho đến trọn đời nhất tâm niệm Phật, mà không được vãng sanh hay sao ?
Kinh Quán Vô Lượng Thọ còn nói :
“Hoặc có chúng sanh tạo nghiệp bất thiện, năm tội nghịch, mười điều ác. Do nghiệp ác nên phải đọa vào đường ác. Nếu có thể chí tâm niệm Phật không dứt tiếng, đầy đủ mười niệm xưng Nam Mô A Di Đà Phật.
Bởi xưng danh hiệu Phật nên trong mỗi niệm mỗi niệm trừ được tội nặng của sự sanh tử trong tám mươi ức kiếp.
Lúc mạng chung thấy hoa sen vàng giống như mặt trời ở trước mặt, chỉ trong khoảnh khắc liền được vãng sanh Cực Lạc”.

Người tạo mười điều ác, chỉ trong khoảnh khắc niệm mười câu Phật, nương nguyện lực của Phật còn tiêu diệt tội lỗi được vãng sanh.
Huống chi người có lòng tin chân chánh, niệm trăm câu, ngàn câu, muôn câu, cho đến niệm Phật nhiều vô số kể mà không được tiêu diệt tội lỗi vãng sanh hay sao ?
Thế nên tôi khuyên tất cả người đời nên tranh thủ thời gian rảnh rỗi trong lúc bận rộn, mỗi ngày niệm Phật hoặc trăm, hoặc ngàn, hoặc muôn câu.
Niệm xong rồi thì điền vào vòng tròn, hồi hướng Tịnh độ.
Một năm đã mãn, sau đó tính chung lại xem niệm Phật được bao nhiêu muôn câu, ghi vào trong sổ, thọ trì suốt đời, dần dần tích lũy tịnh nghiệp.
Người ấy hiện tại được ánh sáng của Phật chiếu soi, tội diệt phước tăng, về sau được ba vị thánh ở Tây phương tiếp dẫn, tất sanh về Tịnh độ.
Hạnh chân thật, nguyện chân thật, nhân chân thật, quả chân thật. Nếu chịu tin theo đây mới là người bạn pháp chân thật.

VĂN KHUYÊN NIỆM PHẬT

Con người ở đời quang cảnh trăm năm có được bao lâu ? Một hơi thở không trở lại liền qua đời khác, muôn thứ chẳng đem theo được chỉ có nghiệp theo mình. Ngay lúc ấy dù muốn niệm một câu Phật, nhưng có được chăng ? Muốn thả một sanh mạng có được chăng ?
Thế nên, hôm nay tôi khuyên khắp tất cả mọi người không luận là sang hèn, giàu nghèo, nam nữ, già trẻ đều có thể xoay đầu xem lại nhìn thấy rõ, tranh thủ thời gian rảnh trong một ngày niệm Phật ba thời, giảm bớt những việc phù phiếm uổng phí hơi sức; cứu sanh mạng lúc nguy ách, để làm chánh nhân Tịnh độ, gieo trồng hạt giống từ bi.
Bảo rằng niệm Phật là không phải niệm Phật nào khác, chính là niệm Phật A Di Đà ở thế giới Cực Lạc. Do Đức Phật ấy từ xa xưa đã phát thệ nguyện lớn, thâu nhận những chúng sanh niệm Phật vãng sanh Tịnh độ.
Phóng sanh là chẳng phải thả sanh mạng nào khác mà chính là thả sinh mạng lục thân quyến thuộc nhiều đời của chính mình.
Do chúng từ xa xưa đến nay từng cùng ta làm cha con, thân quyến, chỉ vì thay hình đổi dạng, nghiệp báo khác nhau nên không còn nhận ra nhau nữa.
Vì sao mà biết như thế ?
Kinh A Di Đà nói :
“Từ đây qua phương Tây cách mười muôn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc. Đức Phật ấy hiệu là A Di Đà, hiện nay đang thuyết pháp… Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn nghe nói về Phật A Di Đà liền chấp trì danh hiệu.
Hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày cho đến bảy ngày nhất tâm không loạn động.
Thì người ấy lúc sắp lâm chung tâm không điên đảo liền được vãng sanh cõi nước Cực Lạc Phật A Di Đà”.

Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói :
“Hoặc có chúng sanh nếu có thể chí tâm niệm Phật không dứt, đầy đủ mười niệm xưng Nam Mô A Di Đà Phật.
Do xưng niệm danh hiệu Phật nên trong mỗi niệm mỗi niệm diệt trừ tội nặng của sự sanh tử trong 80 ức kiếp. Lúc mạng chung thấy hoa sen vàng giống như mặt trời ở trước mặt, chỉ trong khoảnh khắc liền được vãng sanh thế giới Cực Lạc”. 

Kinh Lăng Nghiêm nói :
“Nhớ Phật, niệm Phật hiện tại tương lai nhất định thấy Phật”. 
Như những lời trong ba bộ kinh trên nói, há chẳng phải là sự minh chứng của việc niệm Phật A Di Đà vãng sanh Tịnh độ hay sao ?
Kinh Hoa Nghiêm nói :
“Đối với tất cả chúng sanh có mạng sống, nên thường phát sanh lòng từ bi lợi ích, chẳng có tâm ác làm hại chúng sanh. Huống gì đối với chúng sanh lại khởi tư tưởng chúng sanh cố ý sát hại.” 
Kinh Lăng Già nói :
“Có vô lượng lý do không nên ăn thịt. Vì tất cả chúng sanh xưa nay nhân duyên lần lượt thường làm thân quyến. Do là người thân, vì thế không nên ăn thịt.” 
Kinh Phạm Võng nói :
“Do lòng từ bi nên thực hành phóng sanh. Phải suy nghĩ thế này :
•    Tất cả nam tử là cha ta; tất cả người nữ là mẹ ta, ta đời đời kiếp kiếp đều từ họ thọ sanh.
•     Vì vậy chúng sanh trong sáu nẻo đều là cha mẹ của ta. Nếu ta giết chúng mà ăn tức là giết cha mẹ ta vậy.” 

Như lời ba bộ kinh trên nói, lẽ nào chẳng phải là sự minh chứng của việc phóng sanh, chính là thả quyến thuộc nhiều đời của chính mình hay sao ?
Bậc cao đức ngày xưa bảo rằng :
“Lời Phật nói không tin, vậy thì lời ai đáng tin ?
Đạo làm người mà không tu, thì nên tu đạo gì ?” 

Nay đã được sanh trong loài người, đã được nghe lời Phật nói mà không tin, không tu thì tôi chẳng biết phải làm thế nào nữa ?
Sự hèn kém và thù thắng giữa Ta Bà và Tịnh độ; tội phước và nhân quả của việc sát sanh cùng phóng sanh đều được ghi chép rộng rãi trong kinh điển.
Ở đây không cần phải nói nhiều.
Mong những bậc cao minh nên tự rộng xem để chuyển hóa những người chưa tin, được thế thì công đức vô lượng !

Dịch xong 29-10 Nhâm Ngọ (2002)
Tại chùa Bửu Liên

Chấp bút:  ĐĐ Pháp Đăng
Vi tính:  ĐĐ Tâm Huệ
Trình bày:  Phật tử Diệu Thiện
Bìa:  Phật tử Diệu Huệ

 

 

Share Button
Print Friendly