Liên Trì Đại Sư Tây Phương Phát Nguyện Văn Giảng Chú

28/03/2012

(Chú giải sơ lược bài văn phát nguyện vãng sanh Tây Phương của đại sư Liên Trì)
(trích từ sách Phật Thuyết A Di Ðà Kinh Bạch Thoại Giảng Giải)
Tác giả: Lý Viên Tịnh
Ấn Quang đại sư giám định

Chánh văn:

Khể thủ Tây Phương An Lạc quốc
Tiếp dẫn chúng sanh đại đạo sư
Ngã kim phát nguyện nguyện vãng sanh
Duy nguyện từ bi ai nhiếp thọ
(Cúi lạy bậc đại đạo sư tiếp dẫn chúng sanh trong cõi nước An Lạc ở phương Tây; con nay phát nguyện, nguyện được vãng sanh. Kính xin đức Phật từ bi xót thương nhiếp thọ)

Chú giải:

Hai câu đầu bài kệ diễn đạt ý quy mạng nơi Phật; hai câu tiếp đó diễn tả ý cầu Phật gia hộ.

“Khể thủ” nghĩa là dập đầu sát đất. Dập đầu áp sát đất một lát rồi mới ngẩng đầu lên nhằm biểu thị sự cung kính đến cùng cực. Chơn thành và tôn kính thật sự là bí quyết tối diệu để siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử.

“Phát” nghĩa là phát động mãnh liệt giống như mũi tên lìa khỏi dây cung, thế chẳng ngừng nghỉ giữa chừng. “Nguyện” nghĩa là mong cầu.

Ba điều Tín, Nguyện, Hạnh là cốt lõi của pháp môn Tịnh Ðộ. Hễ đã có nguyện thì ắt phải có Tín và Hạnh, chẳng được khuyết bất cứ một thứ nào! Ðầy đủ không thiếu sót ba điều này thì sẽ quyết định vãng sanh. Ðại sư Ngẫu Ích nói: “Ðược vãng sanh hay không hoàn toàn là do có hay không có Tín, Nguyện. Phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Lời dạy ấy chính là khuôn phép ngàn năm chẳng thay đổi nổi.

1. Phát Bồ Ðề tâm

Người tu Tịnh nghiệp trước hết phải phát Bồ Ðề tâm thì mới có thể tương xứng bổn nguyện của Phật. Vì thế, phải lấy phát Bồ Ðề tâm làm chánh nhân, dùng niệm Phật làm trợ duyên; sau đấy mới cầu sanh Tịnh Ðộ thì chỉ trong một đời ắt sẽ thành tựu. Nếu không phát Bồ Ðề tâm thì chỉ được hưởng quả báo nhỏ bé trong đường trời người!

Ghi chú:

Trong phần chánh văn dưới đây, trong nguyên bản, tác giả Lý Viên Tịnh đã dùng những chữ số nhỏ để đánh dấu cách phân chia chánh văn thành từng câu nhỏ để tiện chú giải từng ý.

Chánh văn:

(1)Ðệ tử mỗ giáp phổ vị tứ ân tam hữu pháp giới chúng sanh (2)cầu ư chư Phật Nhất Thừa Vô Thượng Bồ Ðề Ðạo cố; (3)chuyên tâm trì niệm A Di Ðà Phật vạn đức hồng danh, (4)kỳ sanh Tịnh Ðộ.

(Ðệ tử tên là… khắp vì tứ ân, tam hữu, pháp giới chúng sanh cầu đạo Bồ Ðề Vô Thượng Nhất Thừa của chư Phật, chuyên tâm trì niệm hồng danh vạn đức của Phật A Di Ðà, nguyện sanh Tịnh Ðộ).

Chú giải:

1.1. “Tứ ân” là ân cha mẹ, ân chúng sanh, ân Tam Bảo và ân đất nước. “Tam hữu” là Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới. “Pháp giới chúng sanh” là hết thảy chúng sanh trong mười phương thế giới.

Hai câu này đều nói về cảnh sở duyên; đây là vì tâm này phải có chỗ nương tựa vào thì mới phát khởi nổi, nhưng cảnh lại có rộng, hẹp, xa, gần sai khác. Tứ ân là gần nhất, hẹp nhất; pháp giới chúng sanh là xa nhất, rộng nhất; tam hữu ở vào khoảng giữa. Bởi thế, phát tâm từ thân đến sơ, từ gần đến xa.

1.2. Chúng ta phát tâm niệm Phật chẳng phải chuyên vì tự lợi, mà còn phải mong tứ ân, tam hữu, pháp giới chúng sanh đều được độ thoát, cùng chứng đắc Nhất Thừa Vô Thượng Bồ Ðề đạo.

Câu này nói đến cái tâm phát nguyện.

1.3. “Chuyên tâm” là trong tâm không hề có tạp niệm. “Trì niệm” là niệm niệm chẳng hề quên mất. “Vạn đức hồng danh” nghĩa là một danh hiệu có đủ cả vạn đức.

Câu này nói đến đức Phật được niệm.

1.4. Câu cuối nói đến nơi chốn mình mong cầu.

2. Sám hối ba chướng:

Ðoạn này tiếp nối ý đoạn trước: Tuy đã niệm Phật phát tâm cầu sanh Tịnh Ðộ, nhưng vì chúng sanh đời mạt căn cơ hèn kém, chậm lụt như vậy nên cần phải gấp rút sám hối những tội chướng ấy. Trừ được chướng ngại thì ắt được vãng sanh. Nếu như chẳng trừ được nghiệp chướng của một trong ba độc thì sẽ phải chịu ác báo trong tam đồ.

Chánh văn:

1Hựu dĩ, nghiệp trọng phước khinh, chướng thâm huệ thiển, nhiễm tâm dị xí, tịnh đức nan thành. 2Kim ư Phật tiền, kiều cần ngũ thể, phi lịch nhất tâm, đầu thành sám hối. 3Ngã cập chúng sanh khoáng kiếp chí kim túng tham, sân, si nhiễm uế tam nghiệp vô lượng vô biên; sở tác tội cấu vô lượng vô biên; sở kết oan nghiệp nguyện tất tiêu diệt.

(Lại vì nghiệp nặng, phước nhẹ, chướng sâu, huệ cạn, tâm nhơ dễ nẩy nở, đức sạch khó thành. Nay đối trước Phật, năm vóc siêng lạy, dốc sạch một lòng, chí thành sám hối. Con cùng chúng sanh bao kiếp đến nay mê lầm tịnh tâm sẵn có, để tham, sân, si ô uế ba nghiệp, vô lượng vô biên tội cấu đã tạo, vô lượng vô biên oan nghiệp đã kết nguyện đều tiêu diệt)

Chú giải:

2.1. “Nghiệp” chính là Thập Ác. Thân có ba điều, tức là: giết, trộm, dâm. Miệng có bốn điều là nói dối, nói thêu dệt, nói đôi chiều và ác khẩu. Ý có ba điều là tham, sân, si.

“Nghiệp nặng” nghĩa là phạm đủ Thập Ác, hoặc là một lòng một dạ nghĩ tưởng chuyện làm ác.

“Phước” là Thập Thiện, tương phản của Thập Ác. “Phước nhẹ” nghĩa là chỉ tu có mỗi một điều thiện, hoặc chỉ làm lành qua loa. Hoặc là như vừa mới niệm Phật đã than khô họng; vừa mới lễ Phật đã kêu đau lưng! Ðấy đều là những duyên của “phước nhẹ”.

“Chướng” có hai thứ:

a. Trần duyên bức bách và ma tà, ngoại đạo trói buộc; đó là chướng từ bên ngoài.

b. Bịnh tật, chết yểu và ngu si, điên đảo là chướng phát khởi từ bên trong.

“Chướng sâu” là nội chướng lẫn ngoại chướng cùng công phá mình: chẳng hạn như, vừa nghĩ đến chuyện tu hành thì bị bịnh ngặt, vừa hướng đến đạo đã gặp phải tà sư v.v…

“Huệ” gồm có Phương Tiện Huệ (Văn, Tư, Tu) và Chơn Thật Huệ (Kiến Ðạo…). “Huệ cạn” là nghe nhiều chỉ hiểu được đôi chút, hoặc chưa chứng Nội Phàm đã bảo mình đạt tới Phật địa; vừa hiểu biết đôi chút sự việc thế gian đã khoe mình chứng ngộ.

“Nhiễm tâm” chính là tham, sân, si. “Dị xí” nghĩa là: tâm tham luyến khác nào những sợi tơ trong ngó sen cứ kéo dài mãi chẳng đứt; tâm sân nộ như ngọn lửa dễ cháy bùng lên; tâm ngu si như lưới đan mau mắt càng quấn càng dày. Lại có hạng người vừa gặp phải chuyện nhỏ nhặt đã ghim trong lòng bao năm tháng, nghe lời không vừa ý liền kết oán suốt đời; há chẳng phải là “nhiễm tâm dị xí” hay sao?

“Tịnh đức” chính là Giới, Ðịnh, Huệ. “Khó thành” nghĩa là: về Giới thì đối với các luật nghi, giữ được thì ít, vi phạm thì nhiều; về Ðịnh thì đối với Thiền Na dù lớn hay nhỏ, chẳng hề tu tập, hiểu biết; về Huệ thì đối với những Diệu Trí dù Quyền hay Thật thường chẳng có cách nào chứng ngộ được. Hoặc là vừa mới lãnh thọ giới phẩm đã phá ngay giới tướng; vừa vào Thiền đường đã hôn trầm, lao chao. Ðấy chẳng phải là “tịnh đức nan thành” hay sao?

Nếu như đã hiểu rõ những điều ấy thì phải nên sanh tâm thẹn hổ sâu xa, thống thiết tự trách, khẩn khoản sám hối thì mới hợp đạo lý vậy!

Cả bốn câu này nói lên nguyên do sám hối, tức là lý do vì sao chúng ta cần phải sám hối.

2.2. “Ngũ thể” (năm vóc) chính là hai khủy tay, hai gối và trán. Do vì từ thân này tạo ra các nghiệp nên phải dùng ngũ thể rạp lạy để sám hối; làm như vậy nhằm để biểu thị sự cung kính bên ngoài.

“Phi lịch” chính là mở toang ra, tẩy rửa sạch sẽ. Ðấy là do từ ý khởi lên tham sân, cho nên ngày nay cần phải nhất tâm, dốc trọn tấm lòng sám hối. Làm như vậy để biểu thị sự cung kính trong nội tâm.

“Ðầu thành” (gieo tấm lòng thành) nghĩa là đem trọn tấm lòng thành của mình hướng đến Phật. Sám hối là để đoạn cái tâm tiếp nối (tương tục tâm).

Cả bốn câu này nói lên phương pháp sám hối, tức là chúng ta phải nên sám hối như thế nào.

2.3. “Con cùng chúng sanh” ý nói chẳng phải chỉ có mỗi một người, “từ bao kiếp đến nay” ý nói chẳng phải chỉ mỗi một đời này. Cần nên biết rằng: chúng sanh tạo ra tội nghiệp từ vô thỉ đến nay; đời đời kiếp kiếp lần lượt làm quyến thuộc, chủ bạn, lần lượt giúp đỡ, dắt dẫn nhau gây tạo. Ðã cùng nhau tạo nghiệp thì tất nhiên phải cùng nhau sám hối.

“Vô lượng vô biên” hàm ý chẳng phải chỉ có một chỗ. Vô lượng vô biên lại bao gồm năm ý nghĩa:

- Một là ước về tâm: Một niệm trần lao đã có đủ tám vạn [phiền não], huống hồ là niệm niệm tiếp nối.
- Hai là ước về cảnh: Gây tạo nghiệp trong một chỗ đã là vô lượng, huống hồ là tạo nghiệp khắp cả mười phương.
- Ba là ước về sự: Một nghiệp nếu thành tội đã không ngằn mé, huống hồ là có các nghiệp.
- Bốn là ước về thời: Chỉ một đời đã tạo nghiệp vô lượng, huống hồ là trong cả bao kiếp.
- Năm là ước về người: Một người tạo nghiệp đã là vô lượng, huống hồ là chúng sanh!

Vì thế, nếu như nghiệp chướng có hình trạng thì khắp cả hư không cũng chẳng chứa đựng được nổi!

Câu “mê bổn tịnh tâm” (mê lầm tịnh tâm sẵn có) thể hiện ý sám hối phiền não chướng; câu “nhiễm uế tam nghiệp” diễn tả ý sám hối nghiệp chướng; câu “sở kết oán nghiệp” là sám hối báo chướng. “Nguyện tất tiêu diệt” là nguyện ba thứ chướng trên đây đều tiêu diệt.

3. Lập tứ hoằng thệ:

Nếu tu hành mà chẳng có thệ nguyện thì chỉ e sẽ bị thối thất nên phải dùng bốn pháp này để chế ngự cái tâm. Nếu thiếu sót bốn pháp này thì dễ bị biếng nhác.

Chánh văn:

1Tùng ư kim nhật, lập thâm thệ nguyện: viễn ly ác pháp, thệ bất cánh tạo; 2cần tu thánh đạo, thệ bất thối đọa; 3thệ thành Chánh Giác, 4thệ độ chúng sanh.

(Từ nay trở đi, lập thệ nguyện sâu: xa lìa ác pháp, thề chẳng tạo nữa; siêng tu thánh đạo, thề chẳng lui đọa; thề thành Chánh Giác, thề độ chúng sanh)

Chú giải:

Câu đầu tiên chính là “phiền não vô biên thệ nguyện đoạn”. Ấy là do xem thấy chúng sanh bị tham, sân, si, tà kiến não hại mà mình chẳng cứu độ được cho nên lập ra thệ nguyện này; đấy là nương theo Tập Ðế mà phát tâm.

Câu thứ hai chính là “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Do xem thấy lục độ, vạn hạnh… hằng hà sa pháp môn có đủ vô lượng điều xứng tánh khoái lạc mà chúng sanh chẳng tu tập, trái lại còn tạo đủ các điều tội nghiệp, cho nên lập ra thệ nguyện này. Ðây là nương theo Ðạo Ðế mà phát tâm.

Câu thứ ba “thệ thành Chánh Giác” chính là “Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”. Do vì quán sát Phật đã diệt sạch phiền não, chứng đắc niềm vui giải thoát, nhưng chúng sanh bất giác bất tri, phải lầm chịu đủ điều khổ sở, cho nên phát ra lời nguyện này. Ðây chính là y theo Diệt Ðế mà phát tâm.

Câu thứ tư: “Thề độ chúng sanh” chính là “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. Do xem thấy chúng sanh bị sanh, lão, bịnh, tử bức bách chịu đại khổ não nên phát ra lời nguyện này. Ðây chính là y theo Khổ Ðế mà phát tâm.

4. Cầu sanh Tịnh Ðộ

Do phát khởi các tâm nguyện như trên, cả hoặc lẫn nghiệp cùng tiêu tan cho nên tam muội mới thành, mới dễ sanh trong chín phẩm hoa sen. Bởi vậy, cần phải cầu sanh Tịnh Ðộ. Nếu không phát nguyện cầu sanh, khó lòng thoát khỏi luân hồi.

4.1. Cầu Phật gia hộ

Chánh văn:

1A Di Ðà Phật dĩ từ bi nguyện lực đương chứng tri ngã, đương ai mẫn ngã, đương gia bị ngã. 2Nguyện Thiền Quán chi trung, mộng mị chi tế, đắc kiến A Di Ðà Phật kim sắc chi thân, đắc lịch A Di Ðà Phật bảo nghiêm chi độ, đắc mông A Di Ðà Phật cam lộ quán đảnh, quang minh chiếu thân, thủ ma ngã đầu, y phú ngã thể.

(Xin A Di Ðà Phật do từ bi nguyện lực nên chứng biết cho con, nên thương xót con, nên gia hộ con. Nguyện trong khi Thiền Quán, hay trong lúc mộng mị được thấy thân sắc vàng của Phật A Di Ðà, được dạo qua cõi báu trang nghiêm của Phật A Di Ðà, được Phật A Di Ðà dùng cam lộ rưới đảnh, quang minh chiếu đến thân, tay Phật xoa đầu con, y ngài trùm thân con)

Chú giải:

Do tâm Phật từ bi vô lượng nên Phật có nguyện lực. Do có nguyện lực nên sẽ chứng biết. Do chứng biết nên sẽ xót thương. Do xót thương nên sẽ gia hộ. Cả bốn câu này diễn tả tấm lòng mong Phật hộ niệm. Những câu kế tiếp đó diễn tả các cách đức Phật hộ niệm chúng ta.

4.2. Chánh phát nguyện

4.2.1. Phát nguyện trong đời hiện tại

Chánh văn:

Sử ngã túc chướng tự trừ, thiện căn tăng trưởng, tật không phiền não, đốn phá vô minh, viên giác diệu tâm, khuếch nhiên khai ngộ, Tịch Quang chơn cảnh thường đắc hiện tiền.

(Khiến con túc chướng tự trừ, căn lành tăng trưởng, chóng sạch phiền não, mau phá vô minh, đột nhiên khai ngộ viên giác diệu tâm, Tịch Quang chơn cảnh thường được hiện tiền)

Chú giải:

Do được Phật dùng cam lộ quán đảnh nên ba thứ túc chướng: hoặc, nghiệp, khổ tự diệt trừ. Do được quang minh của Phật chiếu đến thân nên ba thứ căn lành: Giới, Ðịnh, Huệ tự được tăng trưởng.

Chữ “phiền não” chỉ kiến hoặc và tư hoặc. Phiền não làm loạn tâm thần. Chữ “vô minh” chỉ căn bản hoặc, chẳng ngộ được Ðệ Nhất Nghĩa Ðế. Do được đức Phật dùng tay xoa đảnh đầu nên mau chóng phá sạch các phiền não, vô minh.

“Viên giác diệu tâm” là Năng Chứng Trí. “Tịch Quang chơn cảnh” là lý sở chứng. Do được đức Phật dùng y trùm lên thân ta, đột nhiên ta khai ngộ được Viên Giác diệu tâm cho nên chơn cảnh Tịch Quang thường hiện tiền.

4.2.2. Lâm chung nguyện

Chánh văn:

Chí ư lâm dục mạng chung dự tri thời chí, thân vô nhất thiết bịnh khổ ách nạn, tâm vô nhất thiết tham luyến mê hoặc. Chư căn duyệt dự, chánh niệm phân minh, xả báo an tường như nhập Thiền Ðịnh.

A Di Ðà Phật dữ Quán Âm, Thế Chí, chư thánh hiền chúng phóng quang tiếp dẫn, thùy thủ đề huề. Lâu, các, tràng phan, dị hương, thiên nhạc, Tây phương thánh cảnh chiêu thị mục tiền linh chư chúng sanh kiến giả, văn giả hoan hỷ cảm thán, phát Bồ Ðề tâm.

(Cho đến lúc mạng sắp chấm dứt, biết trước sắp đến lúc. Thân không có hết thảy bịnh khổ, nạn ách; tâm không có hết thảy tham luyến, mê hoặc. Các căn vui sướng, chánh niệm phân minh. Bỏ xác thân một cách an lành như đang nhập Thiền Ðịnh.

A Di Ðà Phật và Quán Âm, Thế Chí, các bậc thánh hiền phóng quang tiếp dẫn, đưa tay dắt dìu. Lầu, gác, tràng phan, hương lạ, nhạc trời. Thánh cảnh Tây phương hiện rõ trước mắt khiến các chúng sanh: kẻ thấy, người nghe mừng rỡ, khen ngợi, phát Bồ Ðề tâm)

Chú giải:

Biết trước ngày mất ba ngày hoặc bảy ngày thì gọi là “dự tri thời chí” (biết trước sắp đến lúc vãng sanh).

“Bịnh khổ” là tứ đại nơi thân chẳng điều hòa. “Nạn ách” là các nạn: nước, lửa, đao binh, độc dược…

“Tham luyến” là chẳng hạn như ăn chay lâu năm, lúc lâm chung lại ngã mặn; hoặc đang một dạ niệm Phật, khi lâm chung chợt sợ chết; hoặc vì ân ái vấn vương thậm chí khó lòng chia tay, buông bỏ nổi; hoặc là hứa nguyện, van vái, cam tâm cầu thần, chạy thuốc v.v…

“Mê hoặc” là tự nghi mình nghiệp chướng sâu nặng, hoặc nghi công hạnh cạn mỏng, hoặc nghi Phật chẳng đến rước v.v…

“Các căn vui sướng” là năm căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân không bịnh, không nạn. “Chánh niệm phân minh” chỉ căn thứ sáu tức là ý căn không tham, không lầm lạc.

“Bỏ xác thân một cách an lành” là buông bỏ cái thân mình đã thọ đây chẳng hề lo lắng, chẳng hề mê loạn. “Như nhập Thiền Ðịnh” là hoặc ngồi mà tịch, hoặc đứng mà thác.

Từ câu “A Di Ðà Phật” trở đi nói rõ về sự cảm ứng đạo giao. Còn từ câu “khiến các chúng sanh” trở đi là nói đến sự lợi ích do thấy và nghe.

4.2.3. Vãng sanh nguyện

Chánh văn:

Ngã ư nhĩ thời thừa kim cang đài tùy tùng Phật hậu; như đàn chỉ khoảnh sanh Cực Lạc quốc: thất bảo trì nội, thắng liên hoa trung. Hoa khai kiến Phật, kiến chư Bồ Tát, văn diệu pháp âm, hoạch Vô Sanh Nhẫn.

Ư tu du gian, thừa sự chư Phật, thân mông thọ ký. Ðắc thọ ký dĩ, tam thân, tứ trí, ngũ nhãn, lục thông, vô lượng bách thiên đà ra ni môn, nhất thiết công đức giai tất thành tựu.

(Con trong khi ấy nương đài kim cang theo sau đức Phật. Như trong khoảng khắc vừa khảy ngón tay sanh cõi Cực Lạc trong ao bảy báu, trong hoa sen diệu. Hoa nở thấy Phật, thấy các Bồ Tát, nghe tiếng pháp mầu, đắc Vô Sanh Nhẫn. Chỉ trong khoảnh khắc thờ kính chư Phật, liền được thọ ký. Ðược thọ ký xong, ba thân, bốn trí, ngũ nhãn, sáu thông, vô lượng trăm ngàn đà-ra-ni môn, hết thảy công đức thảy đều thành tựu)

Chú giải:

Câu “như đàn chỉ khoảnh” (như trong khoảng khảy ngón tay) ngụ ý vãng sanh cực kỳ mau chóng. “Ðắc Vô Sanh Nhẫn” là hiểu rõ các pháp vốn bất sanh bất diệt. “Tam thân” là Pháp Thân, Báo Thân và Hóa Thân. “Tứ trí” là Ðại Viên Kính Trí, Bình Ðẳng Tánh Trí, Diệu Quán Sát Trí, Thành Sở Tác Trí. “Ngũ nhãn” là nhục nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn. “Lục thông” là thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mạng thông, thần túc thông và lậu tận thông. “Ðà ra ni” dịch nghĩa là Tổng Trì, tức là: bao gồm hết thảy các pháp, nắm giữ vô lượng nghĩa.

Từ câu “thờ kính chư Phật” trở đi diễn tả rõ hình tướng của các công đức ấy.

5. Trở vào Sa Bà

Chánh văn:

Nhiên hậu, bất vi An Dưỡng, hồi nhập Sa Bà, phân thân vô số biến thập phương sát, dĩ bất khả tư nghị tự tại thần lực, chủng chủng phương tiện độ chúng chúng sanh hàm linh ly nhiễm, hoàn đắc tịnh tâm, đồng sanh Tây Phương, nhập Bất Thối địa.

(Sau đó, chẳng trái An Dưỡng, trở vào Sa Bà, phân thân vô số khắp mười phương cõi, dùng sức thần lực chẳng thể nghĩ bàn, các thứ phương tiện độ các chúng sanh khiến đều ly nhiễm, khôi phục tịnh tâm, cùng sanh Tây Phương, chứng đắc Bất Thối)

Chú giải:

“Chẳng trái An Dưỡng” là Pháp Thân bất động. “Phân thân vô số” là Hóa Thân ứng hiện. “Khắp mười phương cõi” là chẳng phải chỉ thấy hiện hữu trong một cõi nước.

“Phương tiện độ sanh” là dùng tài thí để nhiếp phục kẻ tham lam, dùng ái ngữ nhiếp phục kẻ ương ngạnh; dùng lợi ích nhiếp phục kẻ làm lành; dùng đồng sự nhiếp phục kẻ làm ác. “Ly nhiễm” là ba thứ hoặc chướng chẳng khởi; “tịnh tâm” là chứng trọn vẹn ba đức. Bất Thối gồm có ba loại:

a.Vị Bất Thối: Trọn chẳng lui sụt xuống phàm phu, Nhị Thừa.

b. Hạnh Bất Thối: Trọn chẳng lui sụt hạnh nghiệp đã tu.

c. Niệm Bất Thối: Quyết không có một niệm nào lầm lạc, quên mất.

“Nhập Bất Thối địa” còn có nghĩa là một khi đã sanh về Tây Phương thì dù có sanh trong Biên Ðịa, Nghi Thành đi nữa, quyết cũng chẳng đọa trong tam đồ. Hai câu “khiến đều ly nhiễm…” đều nói về lợi ích trong hiện đời. Còn câu “cùng sanh Tây phương” nói đến lợi ích trong đời sau.

Chánh văn:

Như thị đại nguyện, thế giới vô tận, chúng sanh vô tận, nghiệp cập phiền não nhất thiết vô tận, ngã nguyện vô tận.

(Ðại nguyện như thế, thế giới vô tận, chúng sanh vô tận; nghiệp và phiền não hết thảy vô tận, con nguyện vô tận).

Chú giải:

Ðoạn văn này để tổng kết các đoạn trên.

6. Hồi hướng khắp cả

Chánh văn:

1Nguyện kim lễ Phật, phát nguyện, tu trì công đức, hồi thí hữu tình, tứ ân tổng báo, tam hữu tề tư. 2Pháp giới chúng sanh đồng viên Chủng Trí.

(Nguyện công đức lễ Phật, phát nguyện, tu trì hiện tại hồi hướng hữu tình, báo trọn bốn ân, giúp khắp ba cõi. Pháp giới chúng sanh cùng được viên mãn Nhất Thiết Chủng Trí)

Chú giải:

Hồi hướng có ba loại:

a. Một là hồi kỷ hướng tha: Do vì từ vô thỉ đến nay, chúng sanh làm các nghiệp lành gì cũng chỉ nghĩ đến bản thân và quyến thuộc mà thôi nên nay xoay cái tâm ấy hướng đến khắp các chúng sanh, đem những việc mình đã tu thí hết cho họ, chỉ nguyện người khác được lợi, chứ chẳng mong bản thân mình hưởng an lạc.

Ðấy cũng là “báo trọn bốn ân, giúp khắp ba cõi”.

b. Hai là hồi nhân hướng quả: Từ vô thỉ đến nay, chúng sanh chỉ biết mong cầu phước báo trong đường trời, người; chẳng biết mong cầu thánh quả xuất thế nên nay xoay cái tâm ấy hướng đến Vô Thượng Bồ Ðề: đem hết thảy các thiện nghiệp mình đã tu để trọn trang nghiêm Phật quả.

Ðây chính là hồi hướng “pháp giới chúng sanh cùng được viên mãn Nhất Thiết Chủng Trí”. “ChủngTrí” chính là trí huệ của Phật.

c. Ba là hồi sự hướng lý: Cả hai loại hồi hướng trên đều là sự tướng; nhưng Lý vốn nằm trong Sự nên cả ba thứ hồi hướng đều được trọn vẹn; do đó, chẳng cần phải nói rõ.

Hồi sự hướng lý là năng tu (người tu), sở tu (công đức, thiện nghiệp do người ấy tu tạo), tâm năng hướng (tâm hồi hướng), sở hướng (công đức được mình đem hồi hướng) xét trong Thật Tế (Lý Nhất Thể) thì những cặp khái niệm nhị nguyên ấy đều tiêu diệt hết, không còn có các tướng sai biệt.

Thêm nữa, người tu Tịnh nghiệp làm được điều lành gì đều trước hết hồi hướng về Tây phương. Do tâm ấy, sẽ chuyển hóa phước ấy hướng theo chánh lộ vãng sanh Tây Phương.

Nếu chẳng hồi hướng chỉ e tâm bị phước ràng buộc, lại sanh trong tam giới, phải hiểu rõ điều này!

Chú thích:

(1) Thời khóa công phu mỗi ngày gọi là hằng khóa.

(2) Ðàn việt (danapati): thí chủ, tín thí.

(3) Tu theo thứ tự chín lớp (cửu thứ đệ tu): Còn gọi là Cửu Thứ Ðệ Ðịnh, tức là chín pháp hành Thiền theo thứ tự không gián đoạn, tức là: Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền, Không Xứ, Thức Xứ, Vô Hữu Xứ, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ và Diệt Thọ Tưởng Ðịnh.

(4) Siêu tình ly kiến: không thể nào dùng tư duy, kiến giải để phân biệt, hiểu biết được. Ly cú tuyệt phi hay còn nói là “lìa tứ cú, tuyệt bách phi”: tức là không còn thuộc trong phạm trù đối đãi nào. Tứ cú là có, không, cũng có cũng không; chẳng phải có chẳng phải không. Bách chỉ cho số nhiều, phi là các câu phủ định như phi hữu, phi vô v.v… Bách phi nghĩa là tất cả văn tự, ngôn ngữ đều chẳng phải thật có. Kinh điển hay dùng chữ “ly tứ cú, tuyệt bách phi” để diễn tả lý vô tưởng, bất khả đắc, không còn vướng chấp vào bất cứ khái niệm nào.

HÌNH ẢNH

copy_0_qt9