Liên Trì Pháp Vũ Tập


LỜI BẠT

Tập sách này sở dĩ nói cái lợi cho người sơ tâm, là bởi thấy thiện tri thức khó gặp, thường khổ hỏi lại chẳng có đáp, ba tạng mênh mông mờ mịt như biển khói, càng cảm nhận mời xem không dễ, vì vậy đặc biệt rộng chọn lấy các tác phẩm Tịnh độ của người xưa và tuyển chọn những điều tinh anh trong đó gộp làm thành tập sách này làm chiếc bè quý giúp chúng sinh vượt qua bến mê, tránh khỏi những lao nhọc, đó cũng là điều mà hành giả thích nghe. Phàm người có chánh hạnh tịnh nghiệp cốt là ở chỗ tin sâu nguyện thiết, chấp trì danh hiệu. Cho nên đầu tiên nêu Pháp môn phương tiện trì danh, nhưng có chân mà không có mắt, hoặc sẽ lầm vào lối hiểm, hiểu và hành cùng song hành mới là tốt nhất. Cho nên kế tiếp nói Người niệm Phật cần biết.

Tổ sư khai thị, đều đích thân trải qua cam khổ, mới có ra tâm đắc ấy, nói một vài lời đủ làm khuôn phép. Cho nên kế đến là môn Liên Tông Pháp ngữ. Vị của một bọt nước tuy đủ để biết vị của cả biển lớn, hòa nhập thông suốt, nhưng vẫn phải nhờ vào kinh luận, cho nên cuối cùng nói môn Tịnh độ chuyên luận. Theo thứ lớp ấy, đúng như lời dạy mà tu trì, đâu chỉ hiện tiền thọ dụng, sẽ thấy báo hết, được vãng sinh Tây phương là cầm chắc trong tay. Mùa thu năm Ất hợi, Tịnh nghiệp học nhân Trần Canh Thạch ghi chép ở châu Cổ Du.

Đem công đức biên tập này
Hồi hướng cha mẹ nhiều đời
Cho đến hữu tình pháp giới
Đồng sinh Tịnh độ Tây phương
Quyên góp in ấn lưu thông
Công đức không thể nghĩ bàn
Hiện đời phước thọ khang ninh
Ngày mất hoa nở thấy Phật.
I. Phương tiện trì danh.

1. Tập quán định tâm: Pháp sư Đế Nhàn nói: “Thời gian từ sáng đến tối, chúng ta tâm phần nhiều tán loạn, cho nên khi muốn lập thời khóa hằng ngày, trước phải ngưng tâm tán loạn ngay, rồi sau mới trì tụng; cách ngưng tâm phải tương ưng với trì tụng, tức chính là tập quán. Khi chưa tập quán, trước phải buông bỏ tâm tán loạn, nhắm mắt định thần, trong đầu khởi nghĩ tưởng rằng thân mình đang ngồi kiết già trên tòa hoa sen. Lại tưởng tiếp trước thân không xa có ba đài sen: Phật Di-đà ngồi chính giữa, bên trái và bên phải là Bồ-tát Quán Âm và Bồ-tát Thế Chí, thân mỗi vị đều mầu vàng rực rỡ. Quán tưởng một lúc thì tâm mới định, khi tâm định rồi chính là điều kiện tốt để trì tụng, ấy là phương tiện trước của việc trì danh”.

2. Buộc niệm quán tưởng: Tịnh độ giản yếu Lục nói: “Người tu Tịnh nghiệp trước phải buộc niệm, mặt hướng về phương Tây, thân ngay thẳng chắp tay, tưởng Phật A Di Đà ở phương xa kia hiện ngồi ở đạo tràng này, với y báo, chánh báo trang nghiêm. Lại tự bùi ngùi thân này đã chìm đắm lâu đời trong biển khổ, trôi nổi trong sinh tử, cô quạnh không nơi nương nhờ. Thí như đứa trẻ bị rơi xuống hố, kêu gào cha mẹ mau cứu nguy vong; hành giả cũng vậy, nhất chí quy y, khẩn cầu được thoát khỏi, tiếng tiếng nối nhau, niệm niệm không đổi. Tuy hành lý-sự có khác, tâm định và tán chẳng đồng nhưng đều thành tịnh nghiệp, đều được vãng sinh; nếu không như thế, mà vô ký vọng duyên, thì nhất định trở thành phước luống uổng mà thôi.

3. Niệm Phật mười niệm: Mỗi sáng, mặc quần áo ngay ngắn xong, thì mặt hướng về phương Tây đứng ngay thẳng chấp tay, đọc liên tục danh hiệu Nam-mô A-di-đà Phật, đến hết một hơi là một niệm, mười hơi như vậy là mười niệm, tùy theo hơi dài và hơi ngắn và không giới hạn ở số câu Phật, lấy dứt hơi làm hạn định, tiếng niệm không cao, không thấp, không nhanh, không chậm, trung bình vừa phải, mười hơi liên tục khiến tâm không tán loạn, lấy sự tinh chuyên là chính, cho đến hết đời không được bỏ dở một ngày. Hằng ngày sau khi niệm thì phát nguyện hồi hướng rằng:

Con đệ tử là…, nhất tâm quy mạng Đức Phật A-di-đà ở cõi Cực lạc, xin soi chiếu ánh sáng thanh tịnh vào con, thệ nguyện từ bi nhiếp thọ con, nay con chánh niệm xưng danh hiệu Như Lai, trong khoảng mười niệm, vì đạo Bồ đề, cầu sinh Tịnh độ. Phật xưa có thệ nguyện rằng: Nếu có chúng sinh nào muốn sinh về nước ta, dốc lòng tin ưa, dù chỉ mười niệm, mà không được vãng sinh, thì ta không thành Chánh giác. Do nhân duyên mười niệm này nên con được vào trong biển đại thệ của Như Lai, được nương nhờ từ bi của Phật mà các tội được tiêu diệt, nhân thanh tịnh được tăng trưởng. Khi sắp qua đời thì tự mình biết trước, thân không bệnh khổ, tâm chẳng luyến tham, ý không điên đảo, như vào thiền định, Phật và Thánh chúng tay cầm đài vàng đến tiếp dẫn con, trong khoảng một niệm được sinh nước Cực lạc, hoa nở thấy Phật, liền nghe Phật thừa, khai mở trí tuệ Phật, rộng độ chúng sinh, đầy đủ nguyện Bồ-đề.

4. Sớm tối niệm Phật: Liên Tông Bảo Giám nói: “Người tu hành ở nhà thờ Phật, giữ giới, hằng ngày làm việc đời chưa thể nhất tâm niệm Phật, thì phải dậy sớm thắp hương, lễ bái Tam bảo, tùy ý niệm Phật, chiều tối cũng lễ niệm như vậy lấy làm thường khóa, hoặc có lúc bận rộn, mất thời thì hôm sau nên tự đối trước Phật sám hối. Ngoài sớm tối lễ niệm, còn có thể trong mười hai thời tranh thủ công phu, trì niệm danh hiệu Phật, trăm câu nghìn câu, quan trọng ở chỗ chí thành, mong sinh Tịnh độ, và hồi hướng rằng:

Đệ tử là… Nguyện đem công đức lễ niệm này, lúc qua đời được sinh về Tịnh độ, ở bên ao sen đích thân thấy Phật Di-đà, trong hàng cây báu được gặp bạn lành. Lại nguyện khắp vì cha mẹ, sư trưởng, chúng sinh trong pháp giới cùng đầy đủ nguyện này”.

5. Sắp ngủ niệm Phật: Đại tạng Tập chư Kinh lễ Sám nghi nói: “Người tu Tịnh độ lúc sắp đi ngủ trước phải đứng dậy chắp tay nhất tâm hướng về phương Tây, xưng niệm mười lần: danh hiệu Đức Phật A-di-đà, Quán Âm, Thế Chí và tất cả hải chúng thanh tịnh, xong liền phát nguyện rằng: Đệ tử… hiện là phàm phu, tội nghiệp sâu nặng, luân hồi trong sáu đường, không thể ra khỏi, nay nhờ gặp thiện tri thức, được nghe danh hiệu công đức của Phật Di-đà, một lòng xưng niệm, nguyện sinh Tịnh độ, nguyện Phật thương xót, duỗi tay dắt dẫn. Đệ tử không biết thân tướng sáng chói của Đức Thế tôn Di-đà, nguyện Phật, Bồ-tát thị hiện thân tướng và cõi nước trang nghiêm, v.v.” Nói lời ấy rồi, nhất tâm chánh niệm đi vào giấc ngủ, thì thường trong mộng được thấy. Pháp này gần đây rất có linh nghiệm, do tinh tấn hành trì mới có lòng tin không luống dối.

Lại nữa, Nhị Tổ- Hòa-Thượng Thiện Đạo dạy rằng: “Hễ khi sắp ngủ mà quán tưởng thắng cảnh Tây phương, hoặc quán tưởng tướng tốt sáng chói của Đức Phật A-di-đà thì không được nói nghĩ tạp nhạp, cũng không được cầu thấy điềm lành, mà chỉ một việc là chuyên tâm, thì tự có lúc thấy. Hoặc chỉ xưng danh hiệu Phật mà ngủ, hành giả chỉ chuyên giữ một pháp, không được sử dụng xen tạp các pháp môn khác, cốt là ở chỗ hành trì lâu dài, thì công đức sinh về Tịnh độ không luống uổng”.

6. Sáu thời niệm Phật: Liên Tông Bảo Giám nói: Phàm muốn tu pháp này, trước phải ở trong tịnh thất, thờ tượng Phật, hương hoa đèn nến, tùy theo khả năng mà cúng dường, rửa sạch bụi bặm, mặc áo mới sạch. Mỗi ngày gồm có buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, buổi đầu hôm, lúc nửa đêm và gần sáng đều đối diện trước Tam bảo, thân ngay thẳng chắp tay, kính lễ Tây phương. Mỗi thời mắt trông thấy dung mạo từ bi thì xưng niệm Thánh hiệu Nam-mô A-di-đà Phật một nghìn lần, lễ Phật bốn mươi tám lạy, đọc văn phát nguyện sinh Tây phương, rồi phát nguyện hồi hướng. Mỗi ngày sáu thời hành đạo là ban ngày ba thời và ban đêm ba thời, đều tinh tấn chuyên cần không mỏi mệt, tịnh nghiệp viên thành, một ngày nào đó chắc chắn vị ấy sẽ được Trung phẩm Trung sinh.

7. Thời khóa niệm Phật: Đại sư Đế Nhàn cho Ôn Quang Hy quyển sách nói rằng: “Nay tặng ông quyển nhật khóa nghi quy, chiếu theo đây mà thực hành thì đánh tan được vọng duyên. Mỗi ngày thực hành đến sáu lần thì đến lúc qua đời yên ổn giữ lấy đài sen, việc dễ như trở bàn tay. Mỗi lần chỉ cần tụng một quyển kinh Di-đà, ba biến chú vãng sinh, niệm danh hiệu Phật ba nghìn câu, rồi hồi hướng, phát nguyện, lễ bái, tam quy, không nhọc phải quán tưởng, không cần phải tham cứu, khẩn thiết trì danh, thật tâm thật hành, thực hành cho đến lúc qua đời mà cầu cho đạo cảm ứng không giao nhau cũng không thể được.”

8. Niệm Phật nhanh chậm: Đại sư Đế Nhàn khai thị rằng: “Niệm Phật phải rõ ràng từng câu, phân minh từng chữ, không được quá nhanh vì quá nhanh thì hiệu Phật không rõ, tâm không chí thành, cũng không thể quá chậm, vì quá chậm thì dễ sinh hôn trầm (buồn ngủ), tâm cũng không chí thành. Cho nên, không được quá chậm, cũng không quá nhanh. Mỗi ngày nên ước định số lượng, nhiều thì đến ba vạn lần (30.000), ít thì một vạn lần (10.000), một năm ba trăm sáu mươi ngày, đều phải thực hành không thể một ngày gián đoạn.

9. Dùng tâm niệm Phật: Tịnh độ Quyết chép: “Nói rằng niệm Phật chẳng phải là cái niệm của miệng niệm mà là cái niệm của tâm niệm. Chỗ niệm của tâm là chỗ chuyên chú của tưởng, chỗ hướng đến của chí, chỗ tha thiết của yêu thích, chỗ trói buộc của cảm tình, chỗ tột cùng của tư duy, và là chỗ mưu cầu ắt phải được. Như cuồng loạn còn háo sắc, như tham còn háo tài, niệm niệm không quên, không được thì không nghỉ, dùng tâm niệm Phật cũng phải như vậy.

10. Đi đường niệm Phật: Có người hỏi Thiền sư Diên Thọ rằng: “Khi đi niệm Phật và ngồi niệm Phật thì công đức ra sao?” Sư bảo rằng: Thí như ngược nước mà căng buồm, thì vẫn đến được, nếu lại căng buồm thuận nước thì nhanh chóng biết mấy. Ngồi niệm Phật một câu thì tội trong tám mươi ức kiếp còn được tiêu diệt, công đức của đi niệm, há biết được hạn lượng của nó hay sao?”

11. Đếm số niệm Phật: Sách Tịnh độ Tư Lương chép: “Người tu Tịnh nghiệp, trong tịnh thất đặt một cái giường dây, trước phải buông bỏ hết vô minh phiền não từ trước đến nay và hướng về tượng (tranh) Phật cung kính lễ bái sám hối. Thân ngồi ngay thẳng ở trên giường, nhắm mắt định tâm, hơi hé môi niệm thầm hồng danh sáu chữ, hễ niệm bao nhiêu thì đếm bao nhiêu, như Nam-mô A-di-đà Phật là một, Nam-mô A-di-đà Phật là hai, cho đến một trăm rồi quay lại từ đầu đếm một, như niệm đếm mười, vọng tình chợt khởi lên, hoặc thấy sắc nghe tiếng, hoặc ý vin kéo theo duyên đều là chánh niệm không tha thiết, khiến việc niệm Phật bị đứt quãng, nhớ số không rõ, không đến số một trăm thì chớ tính là số, phải trở lại năm ba lần. Niệm không đến trăm nhất định chớ tính là số. Dù cho niệm đến câu thứ chín mươi chín mà chỉ sai một câu thì cũng không tính là số. Phải đặt số mục tiếng niệm Phật cho phân minh rõ ràng thì mới có thể làm tổng số của một trăm. Tính số không thể dùng xâu chuỗi hoặc vật khác. Số chung, số riêng đều tính trong tâm. Như từ một trăm tính đếm đến một vạn thì số mục phải rõ ràng, không bị đứt quãng. Đây là tịnh niệm nối nhau. Tuy có công phu như vậy, nhưng cẩn thận không được sinh tâm vui mừng, hoặc niệm trở lại năm ba lần, số không đến một trăm thì cũng không nên sinh phiền não. Nếu ngồi lâu thân tâm mỏi mệt, niệm Phật bị đứt quãng, số mục không rõ thì chậm rãi xuống giường, hoặc dùng xâu chuỗi, hoặc niệm ra tiếng, tùy ý tự tại, đều không trở ngại”.

12. Đếm hơi thở niệm Phật: Liên Tông Bảo Giám nói: “Đây là pháp rất cần thiết đối với người hành trì niệm Phật đối trị tâm hôn trầm và tán loạn. Khi tu pháp này, trước tiên tưởng thân mình ngồi trong ánh sáng sáng hào quang rực rỡ, lẳng lặng nhìn xuống chóp mũi, tưởng hơi thở ra vào, mỗi hơi thở niệm thầm một câu Nam-mô A-di-đà Phật, làm phương tiện điều hòa hơi thở, không chậm, không mau. Tâm và hơi thở nương tựa nhau, tùy theo hơi thở ra vào, đi, đứng, nằm ngồi đều có thể hành trì, chớ để gián đoạn”

13. Thượng phẩm niệm Phật: Sách Tây phương Hiệp Luận chép: “Pháp niệm Phật gọi là Nhất hành Tam muội, chỉ ở nơi quyết định, nếu niệm không được tức là có tán loạn, Tam-muội không thành:

Một là Nhiếp tâm niệm: tất cả mọi nơi đều nhiếp niệm không quên, dù cho ngủ cũng buộc niệm mà ngủ, không xa cách niệm, không có niệm khác.

Hai là Dõng mãnh niệm: Như người háo sắc, nghe chỗ có gái đẹp, dù ở nơi bờ cao hang sâu cũng liền đi đến không khiếp sợ.

Ba là Thâm tâm niệm: Như biển lớn sâu rộng, phải cùng tận đáy của nó, đường giác ngộ xa xăm, chưa đến đích thì không dừng nghỉ.

Bốn là Quán tưởng niệm: Trong niệm niệm thấy ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp.

Năm là Tức tâm niệm: nghĩa là dứt tất cả tâm ham danh lợi, tâm cầu quan chức, tâm thế gian, tâm tham luyến, tâm cống cao, tâm bảo hộ, tâm nhân ngã thị phi. Dứt các tâm ấy bằng niệm Phật.

Sáu là Bi đề niệm: Niệm với tâm thương xót, mỗi khi nghĩ tưởng đến Phật thì khắp mình nổi ốc, ngũ tạng bên trong như bị xé rách, như nhớ mẹ hiền đã bồng bế ta lúc nhỏ, như nghĩ đến đứa trẻ thông minh mà chết.

Bảy là Phát phẫn niệm: Niệm với tâm uất ức, như người đi lạc lâm cảnh cô quạnh đói rét, mang vác nặng nhọc, mỗi khi nghĩ đến gần như không muốn sống.

Tám là Nhất thiết niệm: Tất cả thấy nghe hay biết, cho đến lỗ chân lông xương tủy không chỗ nào không niệm Phật.

Chín là Tham cứu niệm: Niệm Phật một câu, liền nghĩ câu niệm này rơi vào đâu? (như tham cứu niệm phật là ai? Niệm này phát ra đi về đâu?)

Mười là Thật tướng niệm: Không chấp có tâm niệm, không chấp không tâm niệm, không chấp vừa có tâm vừa không có tâm niệm, không chấp chẳng phải có tâm chẳng phải không có tâm niệm.

Đó là pháp môn Thượng phẩm niệm Phật. Nếu người niệm Phật được như thế thì hiện đời sẽ được thấy Phật.

Phương tiện có nhiều đường mà nguồn về chỉ có một, các pháp tôi biên soạn trên đều chọn pháp đơn giản dễ thực hành, để cho người học tự chọn lấy, quý ở chỗ tinh chuyên không quý ở số nhiều. Chỉ được một, hai phương tiện khế cơ, đúng như lời dạy tu trì thì đã đủ. (Canh Thạch ghi thêm).

II. Niệm Phật cần biết.

1. Phát Bồ-đề tâm: Quả Phật vô thượng gọi là Bồ-đề. Nếu phát tâm này thì chắc chắn sẽ thành Phật. Sách Tịnh hạnh Pháp Môn chép: “Phàm tu Tịnh độ thì phải phát tâm Bồ-đề, nếu vì tự mình nhàm chán cõi đời năm thứ ô trược, ưa thích cõi chín phẩm thì trái với tâm Bồ-đề, đó là hạnh Thanh văn không nên phát tâm. Nếu vì chúng sinh, khởi tâm đại bi, cầu vãng sanh về nước Cực lạc, mong chóng thành tựu đạo lực thần thông, đến khắp mười phương, cứu độ tất cả chúng sinh giúp họ thành Phật, thì thuận với tâm Bồ-đề, đó là hạnh Bồ-tát, phải nên phát tâm. Nay kính khuyên các bậc cao lưu trong tịnh nghiệp, hễ muốn làm lợi mình và lợi người thì phải phát tâm lập chí, nên đối trước Tam bảo, kính dâng hương hoa, dốc lòng phát nguyện rằng: Nam-mô Phật, Nam-mô Pháp, Nam-mô Tăng, đệ tử là … từ hôm nay, phát đại tâm này, không phải vì tự mình mà cầu phước báo Trời, Người, Thanh văn Duyên giác, cho đến các vị Bồ-tát quyền thừa, chỉ nương vào pháp Tối thượng thừa, phát tâm Bồ-đề, nguyện cùng cha mẹ hiện đời và cha mẹ trong nhiều đời, chúng sinh trong pháp giới, tất cả oán thân cùng sinh về Tịnh độ, và đều không còn lui sụt trên đường tiến đến A-nậu-đa-la-Tam-miệu Tam-Bồ-đề. (nói ba lần như thế).

Tâm này thường phát khởi, ngày ngày thường như thế, cho nên Thiện Tài một đời chứng quả, Long Nữ tám tuổi thành Phật, địa ngục phát tâm, vượt nhanh lên Thập địa, sa-di phát ý nguyện đã vượt qua Nhị thừa. Thật là một hơi hồi nguyên vận, ân thấm nhuần đối với vạn vật.

2. Tu tâm Bồ-đề: Có người hỏi Đại sư Đế Nhàn nên tu trì như thế nào mới tương ưng với tâm Bồ-đề, phải tu trì như thế nào mới làm cho tâm Bồ-đề tương tục không quên mất. Đại sư bảo: “Tâm Bồ-đề là bốn thệ nguyện rộng lớn. Suốt ngày phát khởi ba nghiệp thân, miệng và ý phải tương ưng với một trong Bốn thệ nguyện rộng lớn. Niệm niệm giác sát thì không quên mất”.

3. Ba tâm thượng phẩm: Quán Thượng phẩm thượng sinh trong Quán Kinh nói rằng: Nếu có chúng sinh nguyện sinh về nước Cực lạc, phát khởi ba thứ tâm này thì liền được vãng sinh, ba tâm ấy là: Một là tâm chí thành, hai là tâm tin sâu, ba là tâm phát nguyện hồi hướng. Người có đủ ba tâm này thì sẽ vãng sinh về nước Cực lạc.

Hòa-thượng Thiện Đạo dạy rằng: Thân lễ bái Đức Phật ấy, miệng xưng danh Đức Phật ấy, ý quán sát Đức Phật ấy. Ba nghiệp chân thật, gọi là tâm chí thành. Dùng tín tâm chân thật mà tin biết tự thân còn đầy đủ phiền não, trôi lăn trong ba cõi, tin biết được bản nguyện Di-đà, dù chỉ mười niệm cũng được sinh, không có một niệm tâm nghi ngờ, gọi là tâm tin sâu. Hễ làm tất cả nghiệp lành, tất đều hồi hướng vãng sinh, gọi là tâm hồi hướng phát nguyện.

4. Lý sự nhất tâm: Ngài Chân Hiết nói: Sự nhất tâm mọi người đều có thể thực hành, là do trì niệm danh hiệu tâm không loạn động. Như rồng được nước, như hổ dựa vào núi. Nếu lý nhất tâm cũng chẳng phải pháp khác. Chỉ niệm hồng danh sáu chữ trong mười hai thời, rõ biết tâm năng niệm vốn không có niệm, không có không niệm, không có cũng có cũng không niệm, không có không phải có không phải không niệm, năng niệm đã như vậy, thì sở niệm cũng như vậy.

5. Khiến tâm bất loạn: Niệm Phật Trực Chỉ chép: “Có người hỏi dụng tâm như thế nào để không tán loạn? Đáp rằng: Nếu có thể vận dụng niệm của thân và miệng bất luận là tán loạn chỉ không gián đoạn tự nhiên có thể nhất tâm, cũng có thể gọi là nhất tâm. Chỉ thực hành không ngừng nghỉ làm chừng hạn, cố nhiên không cần lo bị tán loạn. Như người mẹ mất đứa con yêu, như rồng mất hạt châu hộ mạng, không mong tâm nhất mà tự nhất, đâu thể ngăn làm cho tâm được nhất, tâm không thể ngăn mà thật là do người hành trì siêng năng hay biếng nhác mà thôi”

6. Cách tiêu vọng niệm: Đại sư Đế Nhàn trả lời thư cho một cư sĩ rằng: “Người xưa có nói, không sợ niệm khởi, chỉ sợ hay biết chậm. Cư sĩ đã có thể theo biết vọng được sớm, tức là dùng việc niệm Phật tiêu trừ nó, hoàn toàn chẳng phải tiêu trừ, mà chính là cách hoán đổi thôi. Dè dặt không nên dùng sức đè nén, mà phải dùng trí chiếu sáng làm tiêu tan nó. Ngay lúc vọng niệm lẫy lừng mạnh thì tâm kỹ càng suy xét xem nó từ đâu phát khởi, rồi diệt mất đi về đâu. Lâu dần vọng niệm tự nhiên tiêu, chân thật hiện bày. Phải biết vọng vốn không có tự tánh, toàn thể tức không. Nếu ra sức đè nén thì là lấy vọng đuổi theo vọng, càng đè nén thì càng nhiều. Như trên mặt nước mà đè bình hồ lô thì tự làm nhọc mình, không có lợi ích gì. Chỉ cần niệm Phật liên tục thì tạp niệm tự ít đi”.

7. Đừng mong sự mầu nhiệm: Đại sư Đế Nhàn lại trả lời thơ cho cư sĩ rằng: “Một pháp niệm Phật, đừng bao giờ mong cầu sự mầu nhiệm, chỉ cần thật sự niệm đi, không nhọc quán tưởng và tham cứu, cũng không cần mau thấy hiệu nghiệm, chỉ nên lúc nào cũng tưởng nhớ Tây phương, lúc nào cũng nghĩ đến lúc qua đời thì đảm bảo lúc qua đời an nhiên ngồi tòa hoa sen”.

8. Đừng tham cầu cảnh giới: Đại sư Đế Nhàn lại nói: “Tất cả cảnh giới đều từ huân tập mà hiện. Cảnh giới tốt từ huân tập thiện mà hiện, cảnh giới xấu là từ huân tập ác mà hiện, không có huân tập thì không có cảnh giới. Người tu hành phải nuôi dưỡng công phu, tâm không tham đắm vọng, thấy các cảnh giới đồng như không thấy. Kinh dạy rằng: Trên thấy biết mà thiết lập thấy biết tức là gốc của vô minh, thấy biết mà không chấp thấy biết tức là Niết-bàn chân tịnh vô lậu; đã không vui mừng lại không sinh sợ hãi, chẳng những thắng cảnh hiện, sau mới có thọ dụng lớn mà ngay nơi cảnh ma hiện sau đó cũng có thọ dụng lớn vậy”.

9. Niệm Phật cảm ứng: Lại nói rằng: “Nếu niệm Phật quả thực thanh tịnh, nguyện tha thiết, thì dù tán tâm trì danh, chưa thấy được tướng hảo nhưng lúc qua đời cũng quyết được vãng sinh; cho đến đối với cảm ứng đạo giao, có khi hiển cảm mà thầm ứng, có khi hiển cảm mà hiển ứng, có khi thầm cảm mà hiển ứng, có khi thầm cảm mà thầm ứng, không nhất định cầu thấy điềm lành trong mộng và tướng tốt, chỉ cần cứ niệm đi, thì tự nhiên như nam châm hút sắt, nước lặng bóng trăng hiện, ấy là đạo cảm ứng giao nhau rồi”

10. Hàng ngày buộc duyên: Từ Vân Sám chủ nói: “Phàm làm các việc mà trong tâm không quên Phật và nhớ nghĩ Tịnh độ, ví như người đời cẩn thận làm việc, buộc tâm dù trải qua nói năng, tới lui nằm ngồi, làm các thứ công việc mà không trở ngại việc nhớ nghĩ thầm, việc trước rõ ràng, tâm niệm Phật cũng nên như vậy. Nếu thất niệm, thì thường nhiếp phục trở lại và lâu dần thành tánh, tự nhiên thường nhớ. Lại nữa biết tâm vừa khởi niệm ác, liền nhớ đến Phật, nhờ năng lực Phật nên niệm ác tự dứt. Nếu thấy người khác chịu khổ, thì dùng tâm niệm Phật thương xót họ, nguyện cho họ thoát khổ. Kinh Phổ Hiền hạnh nguyện dạy rằng: Muốn làm việc ác thảy đều không thành, tu tập nghiệp thiện thì đều mau thành. Cứ liên tục niệm Phật buộc tâm như vậy, thì có thể thành tựu tất cả công đức của nhân thanh tịnh.

Long Thư nói rằng: Hễ nghe tiếng ác thì niệm Phật A-di-đà để tiêu tiếng xấu ác đó, nguyện cho tất cả mọi người không làm việc ác. Hễ thấy việc thiện thì niệm Phật A-di-đà để tán dương hỗ trợ việc thiện ấy, nguyện cho mọi người đều làm việc thiện. Vô sự thì niệm thầm Phật A-di-đà thường ở trước mắt, khiến cho tâm niệm không quên. Người làm được như vậy thì quyết được sinh Tịnh độ.

11. Bỏ ác lấy thiện: Tịnh độ Thập môn Giáo giới chép: “Người tu Tịnh độ phải bỏ ác, lấy thiện mới được thành tựu công đức. Nếu người tuy niệm Phật Di-đà mà tâm đầy ganh ghét thì gọi là ngầm chứa dao nhọn, lúc qua đời bị dao phong đại cắt xẻ thân mình, hàng trăm đốt xương đau đớn. Hoặc có người nói là tôi giữ giới, người khác không giữ giới, ngạo mạn với sư trưởng và khinh hủy tất cả, hiện đời kém phước, đoản thọ, bệnh lao … thổ huyết mà chết. Nếu người niệm Phật, duyên trần cấu chưa sạch, lúc niệm ác phát khởi thì phải tự kiểm điểm mình: hoặc có tâm tham lam keo kiệt, tâm sân hận, tâm si ái, tâm ganh ghét, tâm lừa dối, tâm tôi ta, tâm cống cao, tâm nịnh hót, tâm tà kiến, tâm khinh mạn, tâm năng sở, và tất cả tâm bất thiện nhiễm theo các cảnh giới thuận nghịch sinh ra. Nếu chúng phát khởi thì phải mau lớn tiếng niệm Phật, buộc trở về chánh niệm, đừng để cho tâm ác tiếp nối, quyết đánh ngay, làm sạch hết không cho sanh trở lại. Từ đây, những tâm như tâm tin sâu, tâm chí thành, tâm phát nguyện hồi hướng, tâm từ bi, tâm khiêm nhường, tâm bình đẳng, tâm phương tiện, tâm nhẫn nhục, tâm giữ giới, tâm hỷ xả, tâm thiền định, tâm tinh tấn, tâm Bồ-đề và tất cả thiện tâm, thường phải giữ gìn, lại cần xa lìa phi phạm hạnh, dứt trừ ác luật nghi, các thứ súc vật gà chó heo dê không được nuôi, các việc săn bắn chài lưới đều không nên làm. Nên biết rằng ở cõi nước Cực lạc các bậc Thượng thiện đều do xả bỏ ác duyên tu theo thiện nghiệp mà được sinh Tịnh độ, không lui sụt Bồ-đề. Người niệm Phật phải học theo Phật, phải bỏ ác, lấy thiện, làm gương soi răn đe chính mình. Chỉ thường theo đây tu trì thì là chánh hạnh Tịnh độ.

12. Nói rõ Song tu: Song tu là tu phước và tu tuệ. Dạy rằng: Tu phước không tu tuệ là thân voi đeo dây nhợ, tu tuệ mà không tu phước như La-hán ứng cúng kém. Phước và tuệ đều trang nghiêm mới có thể thành Chánh giác. Người xưa nói: Việc phước không được không làm, điều tuệ không được không học. Sách Long Thư nói: Người tu Tịnh độ tuy chuyên lấy việc niệm Phật làm hành môn nhưng cũng phải kiêm tu cả phứơc lẫn tuệ mới được sự lý dung thông. Bên trong thì tu tuệ, rốt ráo hàm dưỡng rõ sâu cội nguồn, khiến cho tánh tuệ lớn rộng, bao trùm khắp cõi hư không, không đâu chẳng biết, không đâu chẳng chiếu rõ. Bên ngoài thì tu phước, từ bi phương tiện, nhu hòa khéo điều thuận, làm lợi ích cứu giúp thế gian, đối với tất cả mọi người cung kính bình đẳng, tùy theo cơ nghi nói pháp giáo hóa chúng sinh và hành trì tất cả pháp lành. Đây chính là phước tuệ song tu. Lại nữa, nói rằng: Tu phước lại tu tuệ, tin sâu niệm danh hiệu Phật A-di-đà sẽ được sinh Thượng thượng phẩm, chắc chắn không còn nghi ngờ.

13. Trước phá thân tâm: Thiền sư Tử Bách nói: Vãng sanh Tây phương nghĩa là bình sinh trì niệm danh hiệu Phật đến lúc mạng chung nhất tâm bất loạn, chỉ biết Sa bà là nơi cực khổ, Tịnh độ là chốn thật vui. Ví như thân chim, cá ở trong lồng, chậu, mà tâm thì ở ngoài lồng chậu. Người thực hành niệm Phật lấy cõi Ta-bà làm lồng chậu, lấy cõi Tịnh độ làm nước và hư không. Vì chán và ưa thuần thục, nên lúc xả bỏ mạng sống, trong tâm đối với ham muốn ở Sa-bà, hoàn toàn không chút mong nhận. Cho nên bất luận là tội nặng hay nhẹ đều vãng sinh ngay không nghi ngờ. Giả như bình thường niệm Phật tuy siêng năng, đến giây phút cuối xả báo thân, thói quen ham muốn Sa-bà không mất, quán tưởng về Tịnh độ thì bất nhất, những người như thế cũng được gọi là niệm Phật có thể mang nghiệp vãng sinh Tịnh độ. Nhưng lấy nghĩa mà suy, việc vãng sinh ắt khó. Cho nên, Tổ Lô Sơn trước soạn luận pháp tánh kế đến mở Bạch Liên Xã, chẳng phải không có lý. Bởi pháp tánh không sáng, thì không phá được cửa ải tình, cửa ải tình không phá được thì rốt cuộc thân, tâm, chấp và thọ không thể tiêu mất được. Vì chấp thọ chưa tiêu mất nên các dục căn như ăn uống, trai gái chắc chắn không nhổ được. Cho nên miệng niệm Di-đà mà tâm thì rong ruổi theo dục cảnh. Nếu trước dùng phương giáo phá trừ thân tâm, dần dần tu tập mà được thuần thục, thì rõ biết được thân tâm đều chẳng phải của ta. Nếu hiểu được như thế thì dù chưa phá được chấp thọ thân tâm nhưng so với người thường cũng là bậc cao minh nhiều rồi.

14. Năm nhân Tịnh độ: Luận Tịnh độ nói rằng: Người trung căn, hạ căn cầu sinh Tịnh độ thì phải có đủ năm nhân:

Một là phải sám hối những nghiệp ác chứơng đạo từ vô thỉ đến nay, sợ làm chướng ngại Tịnh độ. Như trong Kinh Phương Đẳng, kinh Phật Danh đã nói.

Hai là phải phát khởi tâm Bồ-đề. Tâm Bồ-đề có ba thứ: 1. Tâm dứt trừ tất cả ác. 2. Tâm tu hành tất cả thiện. 3. Tâm hóa độ tất cả chúng sinh.

Ba là phải chuyên tâm niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà.

Bốn là phải quán sát tổng tướng của thế giới Cực lạc, đất như thế, cao như thế, lầu gác như thế, rừng cây như thế, tòa hoa như thế, tướng hảo như thế, đồ chúng như thế, nói pháp như thế của Đức Phật A-di-đà.

Năm là phải hồi hướng công đức đã làm. Hoặc việc làm trong đời quá khứ, hiện tại bất luận chút ít thiện nào thảy đều hồi hướng cầu sinh về cõi An Lạc. Nếu có được năm nhân ấy thì chắc chắn được sinh về cõi Cực lạc.

15. Chín phẩm Vãng sinh: Đại sư Ngẫu Ích dạy rằng: “Người tin sâu, nguyện tha thiết niệm Phật mà lúc niệm Phật tâm nhiều tán loạn tức là Hạ phẩm Hạ sinh. Người tin sâu nguyện tha thiết niệm Phật mà lúc niệm Phật tâm ít tán loạn tức là Hạ phẩm Trung sinh. Người tin sâu nguyện tha thiết niệm Phật mà lúc niệm Phật tâm không bị tán loạn tức là Hạ phẩm thượng sinh. Người niệm đến sự nhất tâm bất loạn, và không khởi tâm tham, sân, si tức là Trung phẩm thượng trung hạ sinh. Người niệm đến lý nhất tâm bất loạn, tự tại trước dứt kiến tư, trần sa, hoặc cũng có thể hàng phục, dứt trừ vô minh tức là Thượng phẩm thượng trung hạ sinh. Cho nên tín nguyện trì danh niệm Phật có thể trải qua chín phẩm vãng sinh, đích xác không sai.

16. Mười thứ chướng ngại: Có người hỏi Thiền sư Tế Năng rằng: “Chúng sinh thời mạt pháp tu tập tịnh nghiệp sợ tự sinh chướng ngại, chẳng hay có những mối tệ hại nào? Thiền sư đáp: Người tu Tịnh độ có mười thứ tệ hại làm chướng ngại pháp môn:

Một là lòng tin không liên tục.
Hai là hành trì không mạnh mẽ.
Ba là phát nguyện không sâu.
Bốn là lơ là qua ngày.
Năm là tâm duyên theo việc đời.
Sáu là tâm yêu ghét không dứt bỏ.
Bảy là quan tâm kinh điển nội ngoại.
Tám là thích ngâm vịnh thơ phú làm phân tâm.
Chín là nhàn rỗi nói chuyện tạp nhạp.

Mười là không có công phu tĩnh lặng nhất tâm bất loạn, ấn định thời gian chứng thành.

Nếu người thiết thực hành trì công phu quyết không để chút sai phạm, hãy liên tục niệm đi, thì tự nhiên trong hiện tại thấy được bổn tánh Di-đà, khi báo thân kết thúc liền sinh về Tịnh độ ở Tây phương.

17. Ba nghi ngờ, bốn trở ngại: Đại sư Từ Chiếu nói: “Lúc sắp qua đời có ba nghi ngờ, bốn trở ngại ngăn cản, phải mau dứt trừ nó. Ba nghi ngờ: 1. Nghi nghiệp đời trước quá nặng mà hàng ngày tu trì lại quá cạn cợt nên e rằng không được vãng sinh. 2. Nghi nguyện chưa rõ, ba độc chưa dứt, sợ không được vãng sinh. 3. Nghi ta tuy niệm Phật nhưng Phật không đến rước, sợ khó được vãng sinh. Bốn trở ngại: 1. Vì khổ bệnh mà báng bổ Di-đà. 2. Vì tham sống mà giết vật cúng tế. 3. Vì uống thuốc mà dùng rượu thịt. 4. Vì luyến ái mà trói buộc gia đình; đều là những nguyên nhân làm chướng ngại cho việc vãng sinh Tây phương, cho nên phải dè dặt ngăn ngừa.”

18. Thần chú vãng sinh: Đại sư Diệu Hiệp bảo rằng: “Người niệm Phật nếu bị túc nghiệp sai khiến, mà hành nguyện có thiếu sót thì phải nhất tâm tụng thần chú này, trì một biến thì dứt trừ tất cả các tội như năm tội nghịch, mười điều ác, v.v. của thân, trì mười vạn biến thì không quên bỏ tâm Bồ-đề, trì hai mươi vạn biến thì chiêu cảm mầm Bồ-đề phát sinh, trì được ba mươi vạn biến thì Phật A-di-đà thường trụ trên đỉnh đầu người đó, chắc chắn vãng sinh Tịnh độ.

Đại sư Đế Nhàn dạy rằng: “Khi trì chú phải dùng toàn bộ tinh thần, trì tụng ra tiếng, không đựơc quá chậm, không được quá nhanh, từ đầu cho đến cuối từng câu không rối loạn, rõ ràng từng chữ một. Chú là mật ngữ nên không cần phải xét nghĩ suy lường, mà chỉ cần một lòng thành tâm trì tụng, thì tự nhiên có cảm cách, không cần y theo cách đọc của Long Thư.”

19. Đọc tụng Đại thừa: Sách Tịnh độ chỉ quy chép: Trong Ba phẩm tịnh nghiệp và Thượng Phẩm thượng sinh của Quán Kinh đều nói đọc tụng kinh điển Đại thừa là hạnh vãng sinh. Cho nên các kinh Đại thừa như Hoa Nghiêm, Pháp hoa, Bát-nhã, Niết-bàn và ba kinh Tịnh độ, người tu tịnh nghiệp phải tùy theo khả năng mà thọ trì đọc tụng, nương vào pháp lực Đại thừa mà chắc chắn được vãng sinh. Xưa có Lưu Di Dân nhờ tụng Kinh Pháp hoa mà vãng sinh Tịnh độ, lúc sắp qua đời đốt hương cúng dường Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, thân ngồi thẳng, mặt hướng về phương Tây mà hóa; người tu tịnh nghiệp nên lấy điều này làm khuôn phép.

Đại sư Trí Giả dạy rằng: Phương pháp tụng kinh là nên đọc từng chữ, từng câu rõ ràng, âm thanh chính xác, không chậm rãi, không gấp vội, phải buộc duyên vào câu nghĩa trong Kinh, như đối với câu văn không khác lạ, không được sai lầm.

III. Liên Tông Pháp ngữ.

1. Đại sư Thiện Đạo dạy rằng: “Nếu người muốn mau được vãng sinh thì phải phát khởi tâm tu trì không gián đoạn. Đó là cung kính lễ bái, khen ngợi xưng danh, nhớ nghĩ quán sát, hồi hướng phát nguyện, tâm tâm nối nhau, không để việc khác làm gián đoạn. Lại nữa, nếu người tu hành khởi lên tâm tham, sân, si thì hễ vừa phạm liền sám hối, không để cách ngày cách đêm, thường khiến cho thanh tịnh, cũng gọi là tu không gián đoạn. Nếu có thể hết đời thề không bỏ dở nửa chừng thì quyết định được vãng sinh.

Phàm người sắp chết, muốn sinh Tịnh độ, thì phải không được sợ chết, thường nhớ nghĩ thân này nhiều khổ, duyên ác, bất tịnh… các thứ chất chứa trói buộc, nếu được bỏ thân cấu uế này siêu sinh Tịnh độ, thọ vô lượng vui sướng, giải thoát nẻo khổ sinh tử thì thật là việc xứng ý. Như cởi chiếc áo xấu dơ thay chiếc áo tốt quý, buông bỏ thân tâm, không sinh quyến luyến. Vừa bị bệnh tật liền nghĩ đến vô thường và nhất tâm đợi chết, nên dặn người nhà và người đến thăm bệnh tới trước mặt mình thì vì mình niệm Phật, không được nói chuyện linh tinh hiện tại và những việc xấu tốt trong nhà, cũng không cần dùng lời mềm mỏng an ủi, chúc nguyện an vui, tất cả những việc ấy đều là hư vọng vô ích. Nếu bệnh nặng sắp chết, những người thân thuộc không được rơi lệ khóc lóc, cất tiếng than thở sầu não, làm hoặc loạn tâm thần, khiến người ấy mất đi chánh niệm, chỉ cần bảo chuyên nhớ niệm Phật A-di-đà giữ cho đến khi tắt thở. Nếu người ấy đã hiểu rõ về Tịnh độ, chuẩn bị sách tấn thì thật là may mắn. Nếu áp dụng cách này thì chắc chắn vãng sinh, không còn nghĩ ngợi nghi ngờ gì nữa. Cánh cửa chết là việc lớn, phải tự mình cố gắng mới được. Một niệm sai lầm nhiều kiếp chịu khổ, ai là người thay thế. Hãy suy nghĩ! Suy nghĩ!

2. Đại sư Hoài Cảm dạy rằng: Pháp niệm Phật trong thất tối chắc chắn không có trong Thánh giáo, nhưng người mới học ở trong thất tối dứt hẳn các việc thấy nghe, tâm xả bỏ các duyên và chuyên nhất niệm Phật, thực hành như vậy dễ thành Tam-muội. Cho nên, người thế gian muốn suy nghĩ việc khó, chưa được hiểu rõ, thì loạn tưởng khó thành. Ở một mình trong thất, hoặc nhắm mắt không thấy gì, nhờ đây được điềm tĩnh việc tư duy được thành. Ở đây cũng như thế, mà bọn người không học đối với việc nầy sinh nghi ngờ, còn người đã từng tu tập thì xem đây rất quan trọng.

3. Từ Chiếu Tông Chủ dạy rằng: Phàm người niệm Phật trước phải phát tâm, muốn thoát khỏi sinh tử vãng sinh Tịnh độ, phải lấy đại nguyện của chính mình làm chủ ý, thường phải niệm Phật, sớm tối chuyên tâm lễ bái Phật A-Di-đà. Như chầu Đế Vương hai thời không mất, mỗi ngày mỗi gần tâm miệng tương ưng với Phật, cách Phật không xa, miệng niệm, tâm tưởng, tâm nguyện thấy Phật, phát nguyện sâu nặng, quyết tin không nghi, lâu ngày chày tháng công phu thuần thục, Tam-muội tự nhiên thành tựu, lúc mạng chung được Đức Phật Di-đà tiếp dẫn, Tịnh độ hiện ra trước mắt, lại nguyện trong hiện đời thường gặp thiện tri thức, không gặp thầy tà kiến, không mê hoặc tâm mình, không sinh tâm lười biếng. Nếu cũng niệm Phật như vậy, tin sâu phát nguyện, ba thứ Tín, nguyện, hạnh không thiếu. Khi lâm chung thấy Phật tức chẳng Phật từ bên ngoài đến, đều là do tâm hiển hiện, cũng như hạt giống ở trong đất lúc gặp mùa xuân liền nẩy mầm, đâu phải từ ngoài đến, đều là từ trong đất sinh ra. Người tu hành đời nay cũng giống như vậy, tín, nguyện, niệm Phật được thâu nạp vào đất tâm Bát thức, lúc sắp qua đời phát hiện ra cõi Tịnh độ của đức Di-đà tức chẳng phải từ bên ngoài đến, mà đều từ tâm mình xuất hiện ra.

4. Đại sư Ưu Đàm dạy rằng: Vừa bị bệnh tật việc chính đầu tiên là thân tâm phải thanh thản, chớ sinh nghi ngơ, lo lắng, chỉ việc thân ngồi ngay thẳng, mặt nhìn về phương Tây chuyên tâm tưởng niệm đức Phật A-di-đà, Bồ-tát Quán Âm, Bồ-tát Thế Chí và các hóa Phật hiện ở trước mắt, nhất tâm xưng niệm Nam-mô A-di-đà Phật, tiếng trước tiếng sau không dứt, đối với tất cả các việc thế gian không được suy nghĩ, không được tham luyến; hoặc tâm khởi lên ý niệm: chỉ mau xưng niệm danh hiệu Phật, trong mỗi một niệm diệt trừ tội chướng, chỉ một niệm này chắc chắn được vãng sinh Tịnh độ. Nếu mạng chưa dứt thì tự được an ổn, thận trọng chớ để vọng niệm khởi tâm lưu luyến thế gian; sẽ còn thì tự nó còn, sẽ chết thì phải chết, có một việc là cầu được vãng sinh, đâu còn lo nghĩ, nghi ngờ gì. Nếu hiểu được lý này, như được cởi chiếc áo xấu, mặc chiếc áo đẹp, bỏ ngay thân phàm liền bước lên Thánh địa, há chẳng vĩ đại hay sao?

5. Đại sư Tử Bách dạy rằng: Tâm niệm Phật chân thật hay không chân thật, xét cho cùng chỉ dựa trên thủ chứng ở trong hoan hỉ, phiền não mà biết, tâm thật giả ắt có thể phân biệt rõ ràng. Đại để người tâm chân thật niệm Phật ở trong hoan hỷ, phiền não hẳn nhiên niệm niệm không xen hở; đó là vì phiền não cũng không làm loạn động người được, hoan hỷ cũng không làm loạn động người được. Hai thứ đó đã không thể loạn động thì trên cảnh giới sinh tử không còn sợ hãi, có thể thản nhiên ở yêu ghét, không còn mê muội ở một câu A-di-đà Phật này, mà người này hiện tiền áp dụng thường ngày, không được thọ dụng, lâm chung không được vãng sinh Tây phương, thì cho lưỡi của tôi sẽ bị vữa nát.

6. Đại sư Ngẫu Ích dạy rằng: Nếu thật sự có thể niệm Phật, buông bỏ thân tâm thế giới tức là đại bố thí, thật sự có thể niệm Phật không còn khởi tham sân si tức đại trì giới, thật sự có thể niệm Phật, không chấp thị phi, nhân ngã là đại nhẫn nhục, thật sự có thể niệm Phật không chút gián đoạn xen tạp là đại tinh tấn, thật sự có thể niệm Phật không còn rong ruổi theo vọng tưởng là đại thiền định, thật sự có thể niệm Phật không bị hý luận khác mê hoặc là đại trí tuệ. Thử kiểm điểm mình, nếu đối với thân tâm thế giới vẫn chưa buông bỏ được, niệm tham sân si vẫn tự hiện khởi, thị phi nhân ngã vẫn đeo đẳng trong tâm, sự gián đoạn xen tạp vẫn chưa thể thoát khỏi, sự rong ruổi theo vọng tưởng vẫn chưa trừ diệt, các thứ hý luận khác vẫn mê hoặc tâm chí thì không gọi là thật sự niệm Phật.

7. Đại sư Tiệt Lưu dạy rằng: Thời nay, người tu học Tịnh nghiệp, suốt ngày niệm Phật, sám tội, phát nguyện, mà cõi Tây phương vẫn còn xa, không bảo đảm vãng sinh là bởi cọc ái chưa nhổ, dây neo tình còn buộc. Nếu coi ân ái cõi Sa-bà giống như ăn sáp, bất kể là động tĩnh, nhàn bận, khổ vui, lo mừng, đều dựa chắc vào một câu danh hiệu Phật, tựa như núi Tu-di, tất cả cảnh duyên không thể lay động. Có khi tự cảm thấy mỏi mệt, hoặc tập hiện tiền, bèn dõng mãnh khởi lên một niệm, như Ỷ Thiên trường kiếm khiến ma quân phiền não không nơi trốn thoát, như lò lửa hồng cháy mạnh khiến tình thức từ vô thỉ bị cháy tiêu tan không còn sót. Người này tuy hiện ở cõi đời năm thứ ô trược nhưng thân đã ngồi ở cõi nước hoa sen, đâu đợi Đức Di-đà rủ tay, Bồ-tát Quán Âm khuyên bảo đón tiếp mới tin là được vãng sinh!

8. Đại sư Ngộ Khai dạy rằng: Mở mắt niệm Phật, tâm dễ bị tán loạn, nhắm mắt niệm Phật thì đang lúc niệm đặt tâm vào không, đề khởi hiệu Phật, vừa niệm vừa nghe, vừa nghe vừa niệm, miên miên mật mật, hành trì lâu ngày sẽ có lúc được tương ưng. Nhưng phải niệm từng chữ, từng câu, chỉ chuyên tâm cầu sinh Tây phương. Lại có một pháp buộc niệm, trong lúc không niệm Phật thì treo niệm trên thân Phật A-di-đà, tâm thường thanh tịnh, không bị lay động, chính là chỗ đắc lực.

Hỏi: Tạp niệm từ đâu đến? Sư đáp: Một thân người chỉ có một niệm, niệm của niệm Phật tức là khác, niệm của tạp niệm cũng là khác, chỉ vì niệm Phật chưa chuyên nên có chút phần ở ngoài Phật.

Hỏi: Tạp niệm này làm sao trừ được?

Đáp: Tạp niệm không cần trừ, chỉ dùng một niệm nầy hoàn toàn đề khởi ở trên Phật, thì tạp niệm liền không có.

Hỏi: Nhưng tinh thần mệt mỏi, không thể khiến cho nó liền không có, phải làm sao?

Đáp: Do đạo lực chưa đầy, nhiều các tán loạn, phải thu nhiếp sáu căn, dần dần trở về sự thanh tịnh, nếu vẫn chưa làm được thì tạm bỏ qua một bên, không cần lý giải, hoặc để mắt nhìn kỹ vào tướng Phật mà niệm, hoặc niệm chuyên chú vào tướng Phật mà niệm, thì tự không có tạp niệm.

Hỏi: Như vậy thì tốt, nhưng lâu ngày tạp niệm lại khởi, phải làm thế nào?

Đáp: Trong tâm hôn trược, ngoại cảnh lăng xăng, thì niệm Phật không được lực, thậm chí tạp niệm ràng buộc quấy nhiễu không cởi mở được, đốt cũng không cháy. Chỉ có một việc là lắng lòng suy nghĩ khiến cho từng câu niệm Phật, âm thanh từ miệng đi ra, từ tai nge vào. Lại nữa, từ trong tâm niệm lưu xuất, tuần hoàn thâu nhiếp, thì tạp niệm tự không.

Hỏi: Như đây rất tốt, nhưng vẫn có người độn căn không có khả năng thì phải làm sao?

Đáp: Hãy đem sáu chữ Nam-mô A-di-đà Phật, lúc đang niệm Phật một câu thì ghi nhớ ở chữ Nam, câu thứ hai thì ghi nhớ chữ Mô, câu thứ ba ghi nhớ chữ A, rồi đến chữ Di, chữ Đà, chữ Phật, rồi trở lại chữ Nam, xoay vần mà trở lại từ đầu, liên hoàn không đứt quãng thì vọng niệm không có chỗ phát sinh.

9. Đại sư Diệu Không dạy rằng: “Người niệm Phật ở trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm ngồi làm việc thường phải đoan chánh. Nếu thân đoan chánh thì tâm tự thanh tịnh, hành giả nên tự biết, thật không lừa dối mình.”

Miệng đã niệm Phật thì cấm nói chuyện không đâu, nếu vừa nói chuyện không đâu thì liền nghĩ người niệm Phật không nên như vậy, và mạnh mẽ niệm Phật mấy câu, để thức tỉnh quét trừ sạch.

Người niệm Phật chớ nghĩ những điều ác, việc đã trải qua, vừa xong liền xả, lâu ngày thì ý địa thanh tịnh, khi gặp việc liền có diệu trí quán sát. Đây gọi là niệm Phật chuyển thức thành trí.

Khi đối trước tượng (tranh) Phật thì cho tượng này là Phật thật, mặt đối diện, tâm niệm, với lòng thành kính. Lúc không đối trước tượng Phật cũng nên thành kính như khi đối trước tượng Phật. Niệm Phật được như vậy thì rất dễ được cảm thông và hắc nghiệp cũng dễ dàng tiêu diệt.

Người chân thật niệm Phật đã không đuổi theo tài nghệ, lại không cầu danh lợi, rất là khó được. Vì hai chữ “chân thật” là một con đường lớn để vãng sinh Tây phương, lại chữ “chân thật” là ngoài câu A-di-đà Phật thì không còn có một mảy may vọng tưởng nào.

Một việc vừa xong, một lời vừa dứt, còn chưa đánh động niệm Phật thì một câu danh hiệu Phật đã cuồn cuộn tuôn ra, đây là hiện tượng Tam-muội dễ thành.

Cảnh giới của niệm Phật cô tịch là tốt nhất, cao thấp tùy nghi, nhanh chậm tùy phần, hòa chung thành một. Vào lúc này, phải biết thân cô mà tâm không cô, tâm của Chư Phật và Phật Di-đà không hề tạm bỏ chúng ta, ta khởi ý thì Phật liền biết, mở miệng thì Phật liền nghe, đâu lo gì cô tịch.

Bệnh là then chốt của cái chết, chết là cánh cửa của Thánh phàm tịnh uế. Trong lúc bệnh nên làm pháp tưởng về cái chết, siêng năng niệm danh hiệu Phật quyết định đợi chết ắt sẽ có ánh sáng tiếp dẫn đúng theo nguyện vãng sinh của ta, nếu dừng tưởng thì tất cả luyến ái, lo sợ, phiền não sẽ an bài, các thứ tạp niệm đồng loạt hiện tiền, tình trạng sinh tử, làm sao cứu giúp? Nên biết tất cả con đường lầm lẫn trong trăm kiếp ngàn đời, hoàn toàn là ở lúc một niệm dứt được rõ ràng nầy. Nếu một niệm chuyên chú ở Phật, thì thân thể tuy bại hoại mà thần thức không tán loạn, liền theo một niệm này mà vãng sinh Tịnh độ.

Xét thấy một việc lâm chung rất là khẩn thiết, cho nên người xưa thường có chỉ bảo. có một cuốn sách tên là Trợ Chung Tân Lương nói rất rõ về việc này, người tu hành Tịnh nghiệp không thể không đọc, nếu cần có thể đến Phật học Thư cục ở Thượng Hải mà thỉnh xem. (Canh Thạch ghi thêm).

10. Đại sư Đế Nhàn dạy rằng: Phật A-di-đà, ai không thể niệm mà riêng có người không dễ niệm, Cực lạc Tây phương ai không nguyện sinh mà ít được vãng sinh, bởi người niệm Phật chưa được quyết định. Dạy người niệm Phật mà khiến cho họ thật sự tha thiết thì chỉ có một chữ chết, một chữ chết ở trong tâm thì cảnh duyên tự nhiên lạnh nhạt, tình ái tự cũng nhẹ nhàng, danh lợi giàu có, thế lực hướng đến sự chết nầy đều dùng không được, mọi thấy nghe hiểu biết đến thời điểm này đều hành không thông, bốn đại chia lìa, lấy gì nương tựa, cô hồn vô chủ, đâu được tự do. Lúc này không thấy Đức Di-đà, thì sợ gặp quỷ La-sát, lúc này không sinh Tịnh độ, thì sợ vào thai lừa.., dù không có nghiệp ác cũng không khỏi qua lại cõi người, nếu có nhân lành thì phước trời dễ hết, đừng cho rằng tự có làm chủ, nghiệp quả lôi kéo, thật khó trốn thoát; đừng cho rằng vốn không có sống chết, khi tâm thức chưa tận chung quy thuộc về luân hồi. Đừng cho việc này là chậm, là việc ngày mai mà ngày nay không biết, đừng cho thân này là nhẹ, nếu để thân này lầm qua thì bị chìm đắm nhiều kiếp. Thấy tất cả mọi việc mà không biết sống chết là việc lớn thì mọi sự mọi việc đều là việc không đáng quan tâm, trong bất cứ lúc nào cũng đều là lúc trở về mạng chung thì mọi thời giờ đều là lúc niệm Phật. Niệm Phật như vậy thì mới là tâm tha thiết, tâm tha thiết như vậy thì mới được vãng sinh Tịnh độ, thực hành công phu như vậy mới thành Tịnh nghiệp, thường nhớ nghĩ lúc chết mới là tâm tha thiết. Đây là then chốt chính của việc vãng sinh, là quyết định tuyệt diệu của việc chí thành niệm Phật.

11. Đại sư Ấn Quang dạy rằng: Phương pháp hay nhất của việc dụng công niệm Phật là đều nhiếp sáu căn, tịnh niệm nối nhau. Đều nhiếp cả sáu căn, là ngay lúc niệm Phật tâm chuyên chú vào Phật, là nhiếp ý căn, miệng phải niệm cho rõ ràng mạch lạc tức là nhiếp thiệt căn, tai phải nghe đựơc rõ ràng mạch lạc tức là nhiếp nhĩ căn. Ba căn này nhiếp vào danh hiệu Phật thì mắt quyết không thấy cảnh loạn khác là nhiếp nhãn căn, mũi cũng không ngửi những mùi loạn khác là nhiếp tỵ căn, thân phải cung kính là nhiếp thân căn. Sáu căn đã được nhiếp phục mà không tán loạn thì tâm không có vọng niệm. Chỉ có Phật là niệm mới là thanh tịnh niệm. Nếu thường luôn nhiếp cả sáu căn mà niệm, thì gọi là tịnh niệm nối nhau, nếu thường tịnh niệm nối nhau thì nhất tâm bất loạn, niệm Phật Tam-muội sẽ dần dần được.

Niệm Phật phải thường tưởng sắp chết sắp đọa địa ngục thì không khẩn thiết cũng tự khẩn thiết, không tương ưng cũng tự tương ưng. Dùng tâm sợ khổ để niệm Phật tức là cách hay nhất để thoát khổ, cũng là cách hay nhất trong tùy duyên tiêu nghiệp.

Lúc niệm Phật ắt phải chí thành, hoặc có khi trong tâm khởi lên niệm đau buồn, đây là tướng thiện căn phát hiện, nhưng dè dặt chớ để việc ấy thường xảy ra, nếu không thì sẽ đắm trước vào ma cảnh sầu bi, hễ có việc vừa ý thì không nên quá vui mừng nếu không thì sẽ đắm trước vào ma cảnh hoan hỷ.

Lớn tiếng niệm Phật không được quá gắng sức, để phòng bị bệnh.

Khi chưa được nhất tâm thì không được nhen nhóm ý muốn thấy Phật, nếu được nhất tâm thì Tâm và Phật hợp nhau, tâm hợp với đạo thì muốn thấy liền thấy ngay, không thấy cũng hoàn toàn không trở ngại. Nếu gấp muốn thấy Phật, tâm niệm lăng xăng, ý niệm muốn thấy kết chặt trong tâm bèn trở thành bệnh lớn của tu hành, lâu ngày sinh nhiều oan gia, theo đó thao túng vọng tình tưởng hiện làm thân Phật, thỏa mãn trả báo oán xưa, tự tâm đã không có chánh kiến, toàn thể là phần khí của ma, một khi thấy thì sinh tâm vui mừng, từ đó ma nhập vào tâm phủ, dựa ma phát cuồng, dù có hoạt Phật, cũng chẳng biết làm sao. Chỉ nên nhất tâm, đâu cần phải mong thấy Phật, có phải không!

Bệnh và ma đều do nghiệp đời trước mà ra, chỉ thường chí thành tha thiết niệm Phật thì bệnh tự thuyên giảm và ma tự xa lìa. Lại niệm Phật xong hồi hướng, vì tất cả oan gia đời trước mà hồi hướng, khiến cho họ thấm nhuần lợi ích việc niệm Phật mà được sinh về cõi lành.

Một câu Nam-mô A-di-đà Phật miên miên mật mật thường thời nhớ niệm, hễ có các ý niệm tình cờ khởi lên như phẫn nộ, dâm dục, hiếu thắng, uất khí,… thì liền nghĩ rằng mình là người niệm Phật, đâu thể khởi lên những tâm niệm này ư! Niệm ấy khởi nên liền dứt, lâu ngày thì tất cả niệm làm lao tổn tâm, thần đều không do đâu mà khởi lên.

Mỗi ngày công phu hồi hướng đều cho chúng sinh trong pháp giới. Nếu thời khóa công phu này vì chúng sinh nầy, thời khóa công phu kia vì chúng sinh kia thì cũng được. Nhưng phải có nguyện hồi hướng chung khắp mới hợp với ba thứ hồi hướng. Ba thứ hồi hướng ấy là: 1. Hồi hướng chân như thật tế. 2. Hồi hướng quả Phật Bồ-đề, niệm niệm viên mãn. 3. Hồi hướng cho chúng sinh trong pháp giới đồng sinh Tịnh độ.

Pháp quán tưởng tuy là tốt nhưng ắt phải biết rõ được tượng Phật vốn thấy là thuộc duy tâm hiện ra, nếu cho rằng cảnh ngoài tâm, thì có khi dẫn đến dựa ma phát cuồng, không thể không biết. Nếu cho là ngoại cảnh, rõ ràng thật có thì trở thành cảnh ma, nhắm mắt mở mắt chỉ chọn thích nghi mà nên làm.

Pháp môn niệm Phật lấy ba pháp Tín, Nguyện, Hành làm Tông, lấy tâm Bồ-đề làm căn bản. Lấy tâm nầy làm Phật, tâm nầy là Phật làm nghĩa thật sự của nhân bao gồm biển quả, quả thấu suốt nguồn nhân. Lấy việc nhiếp cả sáu căn, tịnh niệm nối nhau làm công phu thực hành thiết yếu nhất. Lại có thể lấy Bốn thệ nguyện rộng lớn thường không rời tâm thì tâm và Phật hợp nhất, tâm và đạo hợp nhất, thân hiện tại liền dự vào dòng Thánh, lúc lâm chung thẳng bước lên Thượng phẩm, ngõ hầu không phụ đời nầy!

IV. Tịnh độ chuyên luận.

1. Đại sư Ngẫu Ích luận: Tín-Nguyện-Trì danh là tông chỉ chính của việc tu hành.

Không Tín thì không đủ để khởi nguyện, không Nguyện thì không đủ dẫn dắt Hành, không hành trì danh tốt thì không đủ làm mãn nguyện và chứng minh lòng tin. Tín là tin tự, tin tha tin nhân, tin quả, tin sự, tin lý. Nguyện thì chán lìa cõi Sa-bà, ưa cầu cõi Cực lạc. Hành thì chấp trì danh hiệu, nhất tâm bất loạn.

Tin tự là tin một niệm tâm hiện tiền của mình vốn chẳng phải trái tim bằng thịt, cũng chẳng phải duyên theo hình bóng, dọc thì không có trước sau, ngang thì bặt không có bờ mé, suốt ngày tùy duyên, suốt ngày bất biến, các cõi nước nhiều như bụi nhỏ ở khắp hư không trong mười phương vốn là vật trong một niệm tâm của ta hiện ra. Ta tuy là hôn mê, mê hoặc điên đảo nhưng nếu một niệm hồi tâm, thì chắc chắn được sinh về Cực lạc vốn có trong tâm mình không còn nghi ngờ lo nghĩ gì nữa, đó gọi là tín tự.

Tin tha là tin Đức Thích-ca Như Lai quyết không có nói dối gạt, đức Di-đà Thế Tôn quyết không có nguyện suông, Chư Phật sáu phương hiện tướng lưỡi rộng dài quyết không nói hai lời, tùy thuận theo giáo huấn chân thật của chư Phật quyết chí cầu sinh không còn nghi hoặc, gọi là tin tha.

Tin nhân là tin sâu sự tán loạn xưng danh vẫn là hạt giống thành Phật, huống chi nhất tâm bất loạn, đâu thể không sinh Tịnh độ, gọi là tin nhân.

Tin quả là tin sâu Tịnh độ, các điều lành hội tụ, đều từ niệm Phật Tam-muội mà sinh ra. Như trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, cũng như bóng ắt phải nương theo hình, âm vang phải thuận theo tiếng, quyết không luống dối, gọi là tin quả.

Tin sự là tin sâu chỉ một niệm hiện tiền nầy không thể cùng tận, thế giới mười phương nương tâm hiện ra cũng không thể cùng tận, thật có cõi nước Cực lạc ở ngoài mười muôn ức cõi nước, nước ấy rất trang nghiêm thanh tịnh, không giống ngụ ngôn của Trang sinh, gọi là tin sự.

Tin lý là tin sâu mười muôn ức cõi nước thật không ra ngoài một niệm tâm hiện tiền của ta, vì tâm tánh một niệm hiện tiền của tôi thật không có ngoài. Lại tin sâu y, chánh, chủ, bạn Tây phương đều từ trong một niệm tâm hiện tiền của tôi mà hiện ra. Toàn sự tức lý, toàn vọng tức chân, toàn tu tức tánh, toàn tha tức tự, là từ tâm ta trùm khắp, tâm Phật cũng trùm khắp, tâm tánh tất cả chúng sinh cũng trùm khắp. Ví như trong một ngôi nhà có nghìn ngọn đèn thì ánh sáng lẫn nhau mà đều khắp, trùng trùng giao nhau mà thâu nhiếp nhau, không chướng ngại nhau, gọi là tin lý. Tin như vậy rồi thì Sa-bà là uế do tự tâm mình cảm ra, mà tự tâm uế theo lý nên chán lìa, Cực lạc là tịnh do tự tâm mình cảm ra, mà tự tâm thanh tịnh theo lý nên ưa cầu. Chán uế, phải xả bỏ, đến rốt cùng không có cái đáng xả, ưa tịnh, phải lấy, đến rốt cùng không có cái đáng lấy. Cho nên ngài Diệu Tông nói: Lấy và bỏ đến mức rốt cùng cũng chẳng khác không lấy không bỏ. Giả sử không lấy bỏ theo sự, thì chỉ còn không lấy, không bỏ, tức là chấp lý bỏ sự, đã phế bỏ sự thì lý cũng không trọn vẹn. Nếu thấu hiểu toàn sự tức lý, thì lấy cũng tức là lý, bỏ cũng tức là lý, một lấy một bỏ không gì không là pháp giới. Cho nên kế Tín là nói về Nguyện.

Nói chấp trì danh hiệu, nhất tâm bất loạn: danh hiệu để nêu lên đức, vì đức không thể suy nghĩ bàn luận, nên danh hiệu cũng không thể suy nghĩ bàn luận, vì công đức danh hiệu không thể suy nghĩ bàn luận, nên khiến cho tán loạn trì danh thì là Phật chủng, chấp trì thì lên bất thối. Nhưng các Kinh nói về hạnh Tịnh độ có nghìn muôn sai khác. Như quán tượng, quán tưởng, lễ bái, cúng dường, năm hối, sáu niệm,… mỗi hạnh thành tựu đều sinh Tịnh độ, nhưng chỉ một pháp trì danh là thâu nhiếp căn cơ rất rộng, thực hành rất dễ, có thể gọi là phương tiện đệ nhất trong các phương tiện, liễu nghĩa vô thượng trong liễu nghĩa, viên đốn tối cực trong viên đốn. Vì thế nói rằng: Hạt ngọc trong bỏ vào nước đục, thì nước đục không thể không trong, danh hiệu Phật gieo vào tâm loạn thì tâm loạn không thể không thành Phật.

2. Đại sư Trí Khải luận về hai nghĩa: Ưa và Chán

Người muốn quyết định sinh về Tây phương thì phải có đủ hai hạnh mới quyết chắc sinh về nước kia. Một là hạnh chán lìa, hai là hạnh ưa nguyện.

Hạnh chán lìa: Phàm phu từ vô thỉ đến nay bị năm dục trói buộc luân hồi trong sáu nẻo chịu đủ các khổ, nếu không khởi tâm chán lìa năm dục, không lúc nào thoát ra. Cho nên phải thường quán sát thân này với máu mủ, phẩn tiểu, tất cả nhơ xấu thải ra, bất tịnh hôi thối. Kinh Niết-Bàn nói: Cái thành thân như thế, La sát ngu si ở trong đó. Ai là người có trí mà ưa thích thân này. Kinh lại nói: Thân này chứa nhóm các khổ, tất cả đều bất tịnh, bị trói buộc bởi các thứ ung nhọt…, căn bản không có ý nghĩa, lợi ích. Cho đến thân của các trời đều cũng như vậy. Hành giả hoặc đi, hoặc ngồi, hoặc ngủ hoặc thức phải thường quán thân này, chỉ có khổ, không có vui, rất sinh tâm chán lìa, dẫu việc vợ chồng không thể dứt ngay mà dần dần sinh chán. Thực hành bảy pháp quán bất tịnh: 1. Quán thân dâm dục này, do tham ái phiền não mà sinh, là chủng tử bất tịnh. 2. Do tinh huyết cha mẹ hòa hợp, là thọ sinh bất tịnh. 3. Ở trong thai người mẹ, là chỗ ở bất tịnh. 4. Ở trong thai do huyết mẹ nuôi dưỡng là ăn uống bất tịnh. 5. Đủ mười tháng từ sản môn sinh ra, là sơ sinh bất tịnh. 6. Nằm ở bọc da trong bụng, ở đó có đủ các thứ máu mủ, là thân thể bất tịnh. 7. Sau khi chết sình trướng vữa nát hư hoại, là rốt ráo bất tịnh. Quán thân đã như vậy, thì quán người cũng như vậy. Cảnh giới đối đãi, thân nam, thân nữ,… rất sinh tâm chán lìa, thường quán bất tịnh, người quán được như vậy thì dâm dục phiền não dần dần giảm ít. Lại phát nguyện: nguyện tôi lìa hẳn tạp thực máu mủ ô uế bất tịnh tham đắm năm dục, thân nam, thân nữ… của ba cõi, nguyện được sinh thân pháp tánh ở Tịnh độ. Đây gọi là hạnh Chán lìa.

Hạnh Ưa nguyện lại có hai thứ: Một là trước phải rõ ý nghĩa của việc cầu sinh Tịnh độ, hai là quán các việc trang nghiêm ở Tịnh độ kia để tâm ưa thích nguyện cầu. Rõ ý nghĩa vãng sinh: sở dĩ cầu sinh Tịnh độ là muốn cứu giúp tất cả khổ của chúng sinh, phải tự nghĩ rằng, nay ta không có lực, nếu ở trong đời ác năm trược, cảnh phiền não mạnh mẽ, tự sẽ bị nghiệp lực trói buộc, chìm đắm trong ba đường, trải qua nhiều kiếp số, trôi lăn như thế từ vô thỉ đến nay chưa tạm dừng nghỉ, lúc nào mới cứu được chúng sinh khổ? Vì thế nên cầu sinh Tịnh độ, gần gũi Chư Phật. Nếu chứng được vô sinh nhẫn thì mới có thể ở trong đời ác trược cứu chúng sinh khổ. Cho nên Luận Vãng Sinh chép: Người phát tâm Bồ-đề, chính là có tâm nguyện làm Phật, tâm nguyện làm Phật là tâm độ chúng sinh, tâm độ chúng sinh là tâm nhiếp thọ chúng sinh sinh về cõi Phật. Lại nữa, nguyện sinh Tịnh độ phải đủ hai hạnh: Một là phải xa lìa ba pháp làm chướng ngại cửa Bồ-đề, hai là phải đạt được ba pháp thuận theo cửa Bồ-đề. Thế nào là xa lìa ba pháp làm chướng ngại cửa Bồ-đề? Một là nương tựa cửa trí tuệ, không cầu tự vui, xa lìa tâm chấp ngã, tham đắm tự thân. Hai là nương cửa từ bi, cứu khổ cho tất cả chúng sinh, xa lìa tâm không an ổn chúng sinh. Ba là nương cửa phương tiện, thương xót tất cả chúng sinh, muốn đem đến niềm vui cho họ, xa lìa tâm cung kính cung dưỡng tự thân. Nếu xa lìa được ba pháp làm chướng ngại Bồ-đề thì được ba pháp thuận theo cửa Bồ-đề, ba pháp ấy là: Một là tâm thanh tịnh không nhiễm, không vì tự thân mà mong cầu các vui sướng. Bồ-đề là nơi thanh tịnh không nhiễm, nếu vì tự thân mà cầu vui tức là thân tâm ô nhiễm làm chướng ngại cửa Bồ-đề, cho nên tâm thanh tịnh không nhiễm là thuận theo cửa Bồ-đề. Hai là tâm an thanh tịnh, vì cứu khổ cho chúng sinh nên Bồ-đề là chỗ thanh tịnh để an ổn tất cả chúng sinh, nếu không có tâm cứu giúp tất cả chúng sinh, khiến họ lìa khổ sinh tử thì trái với cửa Bồ-đề, cho nên tâm an thanh tịnh là thuận theo cửa Bồ-đề. Ba là tâm lạc thanh tịnh, muốn cho tất cả chúng sinh chứng Đại Bồ-đề Niết bàn. Bồ-đề Niết bàn là nơi rốt ráo thường vui, nếu không có tâm khiến cho tất cả chúng sinh được rốt ráo thường vui tức là ngăn đóng cửa Bồ-đề. Cho nên tâm lạc thanh tịnh là thuận theo cửa Bồ-đề.

Nhân đâu được Bồ-đề này? Nhân sinh Tịnh độ, thường không lìa Phật đắc vô sinh nhẫn rồi thì ở trong cõi sinh tử cứu chúng sinh khổ, Bi Trí dung hợp nhau, định mà thường dụng, tự tại vô ngại tức là tâm Bồ-đề. Đây là ý nghĩa của việc nguyện sinh.

Hai là quán các việc trang nghiêm, tâm ưa thích nguyện cầu: tâm mong cầu, khởi tưởng duyên với đức Phật A-di-đà, như pháp thân, báo thân… có sắc vàng chói sáng, có tám vạn bốn nghìn tướng, mỗi tướng có tám vạn bốn nghìn vẻ đẹp, mỗi vẻ đẹp phát ra tám vạn bốn nghìn tia sáng, thường chiếu soi pháp giới, nhiếp lấy chúng sinh niệm đến Phật. Lại quán ở cõi nước ấy có bảy thứ báu quý trang nghiêm diệu lạc, đầy đủ như trong Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Thập Lục Quán, thường hành Tam-muội niệm Phật và tất cả các hạnh lành như bố thí, trì giới, nhẫn nhục, v.v. thảy đều hồi hướng cho chúng sinh, cùng được sinh về cõi Cực lạc, thì chắc chắn được sinh, đó gọi là hạnh Ưa nguyện.

3. Đại sư Diên Thọ luận về Tán tâm niệm Phật đươc vãng sanh.

Có người hỏi: Kinh Thập Lục Quán nói mười sáu quán môn đều là nhiếp tâm tu định, quán tướng tốt của Phật, thật rõ ràng toàn vẹn thì mới được bước vào tòa thành cõi Tịnh, thì sao tâm tán loạn mà cũng được vãng sinh? Đáp: văn kinh chín phẩm, tự có lên xuống, cao thấp gồm nhiếp lẫn nhau mà không ngoài hai tâm. Một là Định tâm, nếu tu tập định quán thì được vãng sinh Thượng phẩm. Hai là Chuyên tâm: chỉ niệm danh hiệu, các thiện trợ giúp, thấm nhuần, hồi hướng phát nguyện được thành vãng sanh hạ phẩm, nhưng phải một đời quy mạng, hết mực tinh chuyên tu tập trong lúc nằm ngồi, mặt thường hướng về phương Tây, đi đường, lễ lạy, cung kính, lúc niệm Phật phát nguyện thì chí thành tha thiết không có các tạp niệm khác. Như đến chỗ hình ngục, như ở lao tù, bị oán tặc truy bắt, bị nước trôi lửa cháy mà nhất tâm cầu cứu, nguyện thoát vòng khổ, mau chứng vô sinh, rộng độ hàm thức, nối tiếp làm hưng thạnh Tam bảo, thệ đền đáp bốn ân. Tâm chí thành được như vậy thì sẽ không luống uổng. Nếu có người lời nói và việc làm không hợp nhau, sức tin nhẹ yếu, không có tâm niệm niệm nối nhau, ý thường bị gián đoạn, dựa vào sự lười biếng này, lúc qua đời hy vọng vãng sinh, chỉ bị nghiệp chướng kéo lôi, e khó gặp bạn lành, gio, lửa ép ngặt, chánh niệm không thành. Vì sao? Vì hiện tại là nhân, sắp qua đời là quả, phải là nhân thật thì quả mới không dối, âm hòa thì tiếng vang thuận, hình ngay thì bóng thẳng. Nếu muốn thành tựu mười niệm lúc sắp qua đời chỉ chuẩn bị xong hành trang, nhóm họp các công đức, để hồi hướng cho lúc này, niệm niệm không thiếu thì không có gì lo lắng. Phàm là hai vòng thiện ác, hai báo khổ vui đều do ba nghiệp gây tạo, do bốn duyên sinh ra, do sáu nhân hình thành, do năm quả thâu nhiếp. Nếu một tâm niệm sân nhuế, tà dâm khởi lên tức là nghiệp ngạ quỷ, ngu si ám chướng tức là nghiệp súc sinh, ngã mạn cống cao là nghiệp Tu-la, giữ chắc năm giới là nghiệp cõi người, chuyên tu mười thiện tức là nghiệp cõi trời, chứng ngộ Nhân không là nghiệp Thanh văn, biết duyên tánh lìa là nghiệp Duyên giác, cùng tu sáu độ là nghiệp Bồ-tát, chân từ bình đẳng là nghiệp Phật. Nếu tâm thanh tịnh tức là đài vàng, cây báu, cõi tịnh hóa sinh. Nếu tâm cấu uế thì gò nổng hầm hố, cõi uế vật chất sinh. Đó đều là quả bình đẳng, chiêu cảm được duyên tăng thượng. Cho nên lìa nguồn tự tâm thì không có tự thể riêng, muốn được tịnh quả chỉ thực hành tịnh nhân, như tánh nước chảy xuống, tánh lửa bốc lên, thế thường như vậy, đâu có gì để nghi?

4. Đại sư Tuân Thức luận về: Pháp tọa thiền quán vãng sanh.

Người muốn tu quán vãng sinh nên ở một chỗ ,đặt giường hướng mặt về phương Tây, để dễ quán tưởng, biểu thị cho chánh hướng, ngồi thẳng kiết già, đầu và cột sống thẳng nhau, không ưỡn ngực, cũng không còng lưng, điều hòa hơi thở, định trụ ở tâm. Nhưng môn tu này, kinh luận nói rất nhiều, phàm phu sơ tâm sao có thể tu tập khắp cả. Nay từ chỗ chính yếu dễ thực hành mà tóm lược hai thứ, trong hai thứ này vẫn tùy theo thích nghi, không hẳn phải dùng cả hai. Hoặc có loại quán tưởng khác mà thuần thục, thì tùy tiện nhưng không được lìa pháp môn Tịnh độ, đều phải tu tập. Nói hai loại là:

a. Hỗ trợ ý quán khắp: lúc ngồi rồi thì tự tưởng mọi công tu tức thời của mình phù hợp sanh sang thế giới Cực lạc, nên khởi tâm tưởng vãng sinh về cõi nước ấy, ngồi kiết già trong hoa sen, tưởng hoa khép lại, tưởng hoa nở ra. Ngay lúc hoa nở thì tưởng có năm trăm tia sáng chiếu đến thân, tưởng mắt mở ra, tưởng thấy Phật, Bồ-tát và cõi nước, liền ngồi trước Phật nghe giảng diệu pháp, và nghe tất cả âm thanh đều là pháp ưa thích, hợp với mười hai bộ kinh. Lúc tưởng như vậy thì phải giữ vững, khiến tâm không tán loạn, tâm tưởng rõ ràng, đúng như những điều mà mắt đã thấy, tưởng lâu thì đứng dậy.

b. Tưởng thẳng đến Phật A-di-đà thân vàng cao trượng sáu, ngồi trên hoa sen, chuyên buộc tâm ở sợi lông trắng giữa hai đầu chân mày, sợi lông trắng ấy dài một trượng năm thước, chu vi năm tấc, ngoài có tám cạnh, sợi lông trắng ấy ruột rổng suốt, cuộn tròn về bên phải giữa hai đầu chân mày, trong suốt sáng sạch, không thể nói hết hiện ra kim nhan, sáng rực từng phần rõ ràng. Lúc tưởng như vậy thì phải lắng tâm chú ý, giữ vững chớ đổi dời. Nhưng phải biết là do tưởng niệm mà thấy, nếu thành hoặc không thành đều là nhân duyên tưởng niệm, không có tánh tướng thật, tất cả đều không, giống như thấy mặt mình trong gương, như mặt nước hiện bóng trăng, như mộng như huyễn, tức không, tức giả, tức trung, chẳng phải một chẳng phải khác, chẳng phải ngang chẳng phải dọc, không thể suy nghĩ, tâm tưởng vắng lặng thì sẽ thành tựu niệm Phật Tam-muội.

5. Đức Thanh luận về: Trì danh và quán tưởng

Có người hỏi điều quan trọng của tu Tịnh độ là gì? Ngài Đức Thanh đáp: Kinh dạy rằng, nếu muốn tịnh cõi Phật nên tịnh tâm mình, tu hành tịnh nghiệp phải lấy tịnh tâm làm gốc. Muốn tự tâm thanh tịnh, điều trước tiên phải giới căn thanh tịnh, ấy là thân có ba thứ, miệng có bốn thứ, và ý có ba thứ, mười nghiệp ác này là nhân khổ đau của ba đường, điều quan trọng của giữ giới trước hết là phải làm cho ba nghiệp thanh tịnh thì tâm tự thanh tịnh, trong tâm thanh tịnh này chán ghét cái khổ cõi Sa-bà, phát nguyện vãng sinh cõi An dưỡng mà lập chánh hạnh niệm Phật. Nhưng niệm Phật cần phải có tâm sanh tử tha thiết, trước là cắt đứt duyên bên ngoài, chỉ khởi một niệm, dùng một câu A-di-đà Phật làm mạng căn, niệm niệm không quên, tâm tâm không gián đoạn, trong mười hai thời đi, đứng, nằm, ngồi, cầm muỗng cầm đũa, cúi ngước thấy nghe động tĩnh rảnh bận, bất cứ lúc nào cũng không quên mất, không mê muội, không có duyên khác. Dụng tâm được như vậy thì lâu dần được thuần thục, cho đến trong mộng cũng không quên mất, lúc thức cũng như lúc ngủ, như một không khác, thì công phu miên mật, quyện thành một khối, đó là lúc đắc lực. Nếu niệm đến nhất tâm bất loạn thì lúc sắp qua đời cảnh giới Tịnh độ hiện ra trước mặt, tự nhiên không bị trói buộc bởi sinh tử, Đức Phật A-di-đà phát ra ánh sáng tiếp dẫn, người ấy chắc chắn có được hiệu nghiệm của việc vãng sinh. Nhưng nhất tâm trì danh cố nhiên là chánh hạnh, lại phải giúp cho quán tưởng, càng thấy ẩn mật. Đức Phật vì Hoàng hậu Vi-Đề-hy mà nói mười sáu diệu quán, bèn được một đời thành tựu. Nay trong mười sáu pháp quán ấy nên tùy nghi chọn một pháp quán, hoặc chỉ quán tướng tốt của Phật, Bồ-tát, hoặc quán cảnh giới Tịnh độ. Như Kinh Di-đà nói ao báu hoa sen, v.v. Tùy ý quán tưởng, nếu quán tưởng được rõ ràng thì trong mười hai thời hiện tiền như ở Tịnh độ, lúc qua đời một niệm liền sinh. Dụng tâm được như vậy, tinh chuyên giới hạnh, dứt hẳn niệm ác phiền não, dùng tịnh tâm này mà quán niệm nối nhau thì nhân chân thật của Tịnh độ không ngoài cõi nầy.

6. Truyền Đăng luận về Ái nhẹ, nhất niệm

Dương Thứ Công bảo rằng: Nghiệp ái không nặng thì không sinh ở cõi Sa-bà, niệm không nhất thì không sinh Tịnh độ. Ở cõi Sa-bà có một niệm ái không nhẹ thì lúc qua đời sẽ bị niệm ái ấy lôi kéo, huống chi là có nhiều niệm ái. Đối với cõi Cực lạc có một niệm tâm không chuyên nhất, lúc qua đời còn bị niệm ấy xoay chuyển, huống chi là có nhiều niệm. Ái có nặng có nhẹ, có dày có mỏng, có chánh báo ư, có y báo ư? Thử kể ra nào là cha mẹ, vợ con, anh em bạn bè, công danh phú quý, văn chương thơ phú, đạo thuật kỹ nghệ, y phục, ăn uống, nhà cửa ruộng vườn, rừng suối, cỏ hoa, châu báu ngoạn vật,… không thể nêu ra hết được, nhưng có một vật không quên, đó là ái, có một niệm không đổi, đó là ái.Có một niệm ái tồn tại trong lòng thì niệm không chuyên nhất, có một niệm không trở về chuyên nhất thì không được vãng sinh. Có người hỏi ái nhẹ có đạo hay không? Đáp: ái nhẹ không quan trọng hơn nhất niệm. Nhất niệm có đạo hay không? Đáp: Nhất niệm không quan trọng hơn ái nhẹ. Bởi niệm không nhất là do tán tâm, dị duyên khiến như vậy. Tán tâm, dị duyên là do rong ruổi ở cảnh mà khiến như vậy. Sa-bà có một cảnh thì chúng sinh có một tâm, chúng sinh có một tâm thì Sa-bà có một cảnh, các duyên bên trong giao động, các cõi bên ngoài đuổi bắt.

Tâm và cảnh rong ruổi giao nhau, lăng xăng như cát bụi. Cho nên nếu muốn nhẹ ái đi thì không gì bằng lấp đi cảnh ấy, các cảnh đều rỗng không, muôn duyên đều vắng lặng thì nhất niệm tự thành. Nhất niệm đã thành thì duyên ái đều hết. Hỏi: Lấp cảnh có đạo hay không? Đáp: Lấp cảnh, chẳng phải ngăn che muôn vật, cũng chẳng phải che mắt không nhìn, mà ngay cảnh ấy hiểu rõ do luống dối nhóm họp, gốc nó đã là không và ngọn cũng vậy. Vạn pháp vốn tự tánh không có, cái có chính là tình, nên tình còn thì vật còn, tình không thì vật không, muôn pháp không mà bản tánh hiện, bản tánh hiện mà tình niệm dứt, tự nhiên như thế, chẳng cần gắng gượng. Như Kinh Lăng-Nghiêm cho rằng, thấy và duyên thấy đều là tướng tưởng ra. Như hoa đốm trong hư không vốn không thật có. Cái thấy và duyên này vốn là Bồ-đề diệu tịnh minh thể, làm sao trong đó có đúng, không đúng? Vì thế muốn lấp cảnh ấy không gì bằng thể nhận được vật là luống dối, thể nhận được vật là luống dối thì tình tự dứt, tình dứt thì ái không sinh, mà duy tâm hiện thì niệm chuyên nhất thành. Cho nên Kinh Viên Giác dạy rằng: Biết huyễn tức lìa, không cần thực hành phương tiện, lìa huyễn tức giác, cũng không có thứ lớp, một bỏ một giữ, không cần chuyển đổi, công hiệu nhanh chóng, như trống có dùi. Người học đạo, đối với việc nầy có nên tận tâm hay không? Hỏi: Ai nhẹ đã nghe dạy rồi, còn thế nào là nhất niệm? Đáp: Đạo nhất niệm có ba thứ, đó là Tín, Hành, Nguyện. Cầu sinh Cực lạc lấy việc Tín sâu làm đầu, phải đọc nhiều kinh sách Đại thừa, rộng học Tổ giáo. Hễ tìm thấy sách Tịnh độ thì phải tham cầu, ngộ Cực lạc vốn là Tịnh độ duy tâm của ta, không phải cõi khác, biết rõ Di-đà vốn là tự Phật bổn tánh của ta, chẳng phải Phật khác. Hai là Hành có hai môn: Một là Chánh và hai là Trợ. Chánh hành lại có hai thứ: Một là Xưng danh, hai là Quán tưởng. Xưng danh như Tiểu bản Kinh Di-đà nói trì danh bảy ngày, nhất tâm bất loạn. Có sự nhất tâm và lý nhất tâm: Nếu miệng xưng tụng danh hiệu Phật, buộc tâm ở duyên, từng câu nối nhau, tâm tâm bất loạn, tâm duyên cảnh ngoài thì nhiếp trở lại, ở đây phải phát tâm quyết định, dứt bỏ niệm đời sau, trừ bỏ việc đời, hạ thủ duyên tâm, khiến cho tâm niệm Phật dần dần được tăng trưởng, từ dần dần đến lâu, từ ít đến nhiều, một ngày hai ngày, cho đến bảy ngày thì rốt cuộc sẽ thành nhất tâm bất loạn về sau, đây là sự nhất tâm. Nếu đã được sự nhất tâm rồi thì nhân thanh tịnh Cực lạc thành tựu, lúc qua đời chánh niệm rõ ràng đích thân thấy Đức Phật Di-đà duỗi tay tiếp dẫn, chắc chắn được sinh cõi Tịnh độ. Về lý nhất tâm cũng không có khác, chỉ ở sự nhất tâm, niệm niệm rõ biết, tâm năng niệm, Phật sở niệm, ba đời bình đẳng, mười phương dung nhiếp lẫn nhau, chẳng phải không chẳng phải có, chẳng phải tự chẳng phải tha, không đến không đi, không sinh không diệt, một niệm tâm hiện tiền tức là cõi Tịnh độ đương lai, niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm, vô sinh mà sinh, sinh mà vô sinh, ở trong không thể niệm mà niệm mạnh mẽ, ở trong không thể sinh mà cầu sinh mạnh mẽ, ấy là trong sự nhất tâm rõ được lý nhất tâm. Quán tưởng, nói đầy đủ như trong Kinh Quán vô Lượng Thọ, có mười sáu cảnh, quán Phật là pháp quán quan trọng nhất. Nên quán thân Phật A-di-đà cao trượng sáu, tướng màu vàng ròng tía, đứng trên ao hoa sen, hiện tướng duỗi tay tiếp dẫn, thân có ba mươi hai tướng của bậc Đại nhân, mỗi tướng có tám mươi vẻ đẹp.

Hai thứ chánh hạnh nầy phải giúp nhau mà tiến tu. Phàm lúc đi, đứng, nằm, ngủ thì nhất tâm xưng danh, còn ngồi kiết già thì tâm tâm thực hành quán, đi mệt thì ngồi kiết già niệm Phật, xả kiết già thì đi kinh hành xưng danh, nếu trong bốn oai nghi mà tu hành không gián đoạn thì chắc chắn được vãng sinh Tịnh độ.

Trợ hành, cũng có hai thứ: Một là hành thế gian, như hiếu thuận cha mẹ, một đời thực hành nhân từ, từ tâm không giết hại, đầy đủ các luật nghi và làm tất cả việc lợi ích. Nếu hồi hướng Tây phương thì đều là hành trợ đạo. Hai là hành xuất thế, như hành trì sáu độ muôn hạnh, các thứ công đức, đọc tụng kinh sách Đại thừa, tu các sám pháp, cũng phải dùng tâm hồi hướng để trợ tu, thì đều là hành Tịnh độ. Lại có một thứ trợ hành vi diệu, phải trải qua duyên Cảnh, xứ xứ dụng tâm. Nếu thấy quyến thuộc thì nên tưởng là pháp quyến Tây phương, dùng pháp môn Tịnh độ mà khai đạo cho họ, khiến cho nghiệp ái nhẹ mà được nhất niệm, mãi mãi làm quyến thuộc vô sinh ở tương lai. Nếu lúc sinh ân ái thì nên nghĩ quyến thuộcTịnh độ không có tình ái, phải làm sao để được sinh Tịnh độ, xa lìa ân ái này. Nếu lúc sinh tâm sân giận nên nghĩ quyến thuộc Tịnh độ không có xúc não phải làm sao để được sinh Tịnh độ, xa lìa sân giận này? Nếu lúc chịu khổ nên nghĩ Tịnh độ không có các khổ, chỉ hưởng những điều vui. Nếu lúc hưởng những điều vui thì nên nghĩ cái vui của cõi Tịnh độ, không tai ương, không đối đãi. Phàm trải qua duyên cảnh đều dùng ý này mà suy rộng ra, thì bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu đều là trợ hành của Tịnh độ.

Thứ ba là Nguyện, như thuyền Tịnh độ thì phải dùng Tín làm bánh lái, Hành làm sào chèo chống và dây căng buồm, Nguyện làm cánh buồm hứng gió. Không có bánh lái thì không có kim chỉ nam, không có sào chèo chống và dây căng buồm thì thuyền không thể vận hành được, không có buồm hứng gió thì không thể vượt qua phong ba bão táp. Cho nên tiếp Hành nói đến Nguyện. Nguyện thì có chung và riêng, có rộng và hẹp, có cùng khắp, có giới hạn. Chung thì như văn hồi hướng phát nguyện do các bậc Cổ đức đặt ra, riêng thì tùy theo các ý riêng mà hành, rộng là bốn thệ nguyện rộng lớn, trên cầu dưới hóa, giới hạn thì như khóa tụng có thời gian, theo chúng đồng phát nguyện, cùng khắp thì thời thời phát nguyện, nơi nơi nêu tâm, nhưng phải làm cho thể hợp với bốn thệ nguyện rộng lớn, không được y theo tâm vọng lập. Nếu có đủ ba pháp này thì hy vọng được sinh về Tịnh độ, mau thấy Phật Di-đà. Tất cả pháp môn Tịnh độ đều không ngoài lý này.

Liên Trì Pháp Vũ Tập
Trích từ sách “Tịnh độ tùng thư” của cư sĩ Mao Dịch Viên biên soạn
Tịnh nghiệp học giả Trần Canh Thạch biên tập Hán văn
Cư sĩ Minh Ngọc phụng dịch Việt văn
Share Button
Print Friendly

Những Bài Pháp Khác